| |
Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị Mỹ (FF) - một hình thức giao lưu
văn hoá tới các gia đình của các quốc gia không cùng tiếng
nói do Jimmy Carter và vợ (bà Rosalynn) chính thức thành lập
năm 1976 khi ông lên nắm quyền Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ. Từ đó tới nay, tổ chức FF thường xuyên có các đoàn là
công dân hữu nghị Mỹ đã tới các nước và người Mỹ đã thực sự
cùng ăn, cùng ở tại các gia đình các nước sở tại.
Tại Việt Nam , tổ chức FF của Mỹ đã cử 2 đoàn tới các gia
đình người Việt trong năm 1997. Tháng 4-1998, nhận lời mời
của tổ chức FF Mỹ, Hội hữu nghị Việt - Mỹ đã tổ chức một
đoàn 20 công dân hữu nghị của Việt Nam là các nhà văn, nhà báo, nhà
doanh nghiệp đi thực tế “ba cùng” tại các gia đình người Mỹ
trong thời gian nửa tháng.
I
Trước ngày Đoàn công dân Hữu nghị Việt Nam lên đường sang
Mỹ, anh Vũ Xuân Hồng - Phó chủ tịch Liên hiệp các tổ chức
Hữu nghị Việt Nam kiêm Tổng thư ký Hội Việt - Mỹ có gặp gỡ
Đoàn. Anh nói về quan hệ Việt - Mỹ từ sau kết thúc chiến
tranh (1975) và đặc biệt là sự cải thiện Việt - Mỹ trong
những năm gần đây. Sau đó, anh Thuý - Vụ Bắc Mỹ trao đổi về
kinh nghiệm đi lại, ăn ở trên đất Mỹ. Anh nói đại thể: Nhân
dân Mỹ rất tốt, rất quý trọng người Việt bởi người Việt là
biểu tượng của lòng dũng cảm, của ý chí vươn lên trong cuộc
sống và có lối sống chân thực, nghĩa tình, hiếu khách. Người
dân Mỹ sống rất trật tự kỷ cương, khuôn phép và rất tôn
trọng những người có văn hoá, tôn trọng sự tự do cá nhân của
mỗi con người. Chúng ta sang sinh hoạt, ăn ở, tiếp xúc với
bạn thì nên nói năng nhẹ nhàng, đi lại nhẹ nhàng, ăn uống
nhẹ nhàng. Khi ăn nhớ ngậm miệng, không nhai tóp tép, không
húp xì xụp. Khi có nhu cầu gọi điện thoại hay gọi đồ uống
thì nhớ xin phép bạn, hỏi bạn và trả tiền sòng phẳng dù là
một chinh, dù là ta đang ở trong nhà của bạn. Anh Đăng Tuấn,
Phó tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam ngồi lim dim và
mủm mỉm cười ruồi, nói nhỏ:”Ông ạ, đây là bài giảng mà tôi
đã được nghe cách đây mấy mươi năm khi sang Đông Âu du học...”;
còn bạn Hoài Hương - một cộng tác viên của An ninh thế giới
và là người đã có nhiều cuộc trường chinh tới đất Mỹ - đã
điện khẩn từ thành phố Hồ Chí Minh ra phổ biến kinh
nghiệm:“Khi đi nhớ chuẩn bị các loại thuốc chữa bệnh. Ở Mỹ
có bệnh là phải đi khám bác sĩ, chí ít cũng 500 đôla một lần
khám chưa kể toa thuốc. Vấn đề nữa là người Mỹ không hút
thuốc lá ở công sở và ở các gia đình. Họ chỉ hút ở đường và
bỏ mẩu thuốc vào thùng rác. Sang Mỹ không nên mặc complê -
càvạt; không hút thuốc 3 số 5 vì “lỡ” gặp một vài Việt kiều
quá khích họ biết ngay “cộng”, họ “quậy” là điều không hay.
Và, khi ngồi trong xe ôtô nếu thấy xe Police (cảnh sát) phát
tín hiệu kiểm tra thì tay chân đang ở vị trí nào cứ để
nguyên như thế, không được cử động, không được quay cửa kính
hoặc mở cửa xe. Vì cảnh sát Mỹ thấy người ngồi trong xe có
phản ứng khác lạ là “nó” móc súng “đọp” liền. Đã có một vài
người Việt ta bị cảnh sát Mỹ bắn nhầm trong trường hợp không
hiểu nhau như thế? Nghe bạn dặn, tôi thấy ớn lạnh. Để lấy
tinh thần trước khi đi Mỹ, tôi lần giở tiêu chí của Tổ chức
sức mạnh Hữu nghị do chính Tổng thống Jimmy Carter sáng lập.
Ông viết: “Ngày nay, trên thế giới, xung đột càng ngày càng
diễn ra nhiều hơn. Nguyên do là bởi con người không hiểu
nhau. Nhưng sự khác biệt chia tách mọi người là tín ngưỡng,
chủng tộc và chính trị mà đã hằn sâu trong tư duy của mỗi
con người, của một nhóm người. Khi những khác biệt này chi
phối hành động của chúng ta thì hàng loạt những sự hiểu lầm
sẽ dẫn tới đổ máu. Hiểu biết con người trong chính gia đình
họ sẽ dẫn đến xây dựng được niềm tin và niềm tin là cốt lõi
của sự hiểu biết, thông cảm. Giao lưu văn hoá đến tận nhà là
một cuộc du lịch với khả năng tìm hiểu thấu đáo. Nó sẽ thành
công và con người của các chủng tộc của các quốc gia hiểu
biết lẫn nhau sẽ làm cho thế giới ngày một tươi sáng hơn...”.
Sau đó, khi sang nước Mỹ, tìm hiểu về Tổ chức Sức mạnh Hữu
nghị Mỹ, tôi được biết những dòng tâm sự máu thịt đầy chất
con người trên mà Tổng thống Jimmy Carter đã viết khi cuộc
chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam vừa mới kết thúc.
Thưa bạn đọc kính mến, “hành trang” và “ấn tượng” với nước
Mỹ tôi được chuẩn bị như vậy để lên đường. Đoàn xuất phát từ
sân bay quốc tế Nội Bài và dừng để chuyển chặng tại Taipei (Đài
Loan). Khi làm thủ tục quá cảnh từ Đài Loan đi Los Angeles (Mỹ)
không hiểu “ấn tượng” về người Mỹ thế nào mà nhân viên an
ninh của Đài Loan “khiếp” đến mức đã không cho 2 người trong
đoàn Việt Nam sang Mỹ với lý do: Hộ chiếu chỉ còn thời hạn 5
tháng 27 ngày trong khi Mỹ quy định là thời hạn phải có giá
trị 6 tháng, mặc dù visa Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội đã cấp.
Đoàn chúng tôi nài nỉ: 6 tháng với 5 tháng 27 ngày cũng
không lệch với quy định là bao nhiêu, yêu cầu phía Đài Loan
cứ cho đi, nếu có chịu phạt, phía Việt Nam chịu. Nhưng các
nhân viên rồi cả các sĩ quan an ninh chỉ huy sân bay Taipei
đều kiên quyết từ chối. Họ nói:“Không thể đùa được với người
Mỹ. “Nó” một là một, hai là hai. Chúng tôi cho đi “nó” không
phạt các ông mà phạt Chính phủ của chúng tôi”. Chúng tôi thở
dài, đành thu xếp để hai thành viên ấy bay về nước làm lại
hộ chiếu và, cũng được thêm sự hiểu biết về người Mỹ dưới
con mắt của các nước được Mỹ bảo hộ như thế nào (?).
Chúng tôi “bay” qua biển Thái Bình Dương một ngày, một đêm
và tới sân bay Los Angeles bang California (Mỹ) lúc 19 giờ
35 phút. Cảnh tượng đầu tiên mà chúng tôi cảm nhận tại nhà
ga của sân bay: Đúng đây là đất nước của Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ. Các nhân viên của sân bay, hải quan, an ninh đủ các
chủng tộc, màu da. Tôi gặp một người Việt Nam còn trẻ chừng
25 - 30 tuổi đeo tấm biển Americas AIRLINES. Tôi hỏi thủ tục
lấy tờ khai nhập cảnh, anh ta trả lời bằng một tràng tiếng
Anh như chim hót. Tôi ghé sát vào tai anh ta, nói:“Anh mất
gốc người Việt từ bao giờ?”. Anh ta đỏ bừng mặt, mắt tròn
như dấu hỏi nhìn tôi và, sau một lúc suy nghĩ đã trả lời tôi
bằng tiếng Việt với ngữ điệu không lấy gì làm thiện cảm lắm.
Chúng tôi làm thủ tục nhập cảnh vào Mỹ chóng vánh: Mỗi người
không quá 2 phút. Nghĩa là chỉ phải đưa hộ chiếu, tờ khai
nhập cảnh, tờ khai hải quan; nhân viên an ninh, hải quan đưa
vào máy soi làm cái “rẹc” và “cộp” dấu nhập cảnh vào hộ
chiếu là xong, họ trả lại giấy tờ không cần hỏi lấy một câu.
Chúng tôi nhìn nhau và đều có nhận xét ban đầu: Kể ra vào Mỹ
cũng “được” đấy nhỉ. Đâu thấy lục soát, hạch sách, căn vặn
hộ chiếu - visa còn hạn hay hết hạn. Gớm, cái anh “Đài Bắc”
mang ông “thầy” Mỹ ra dọa khiếp thế.
Đón chúng tôi tại phòng chờ lấy hành lý tại phi trường Los
Angeles có khoảng trên chục ông bà người Mỹ. Họ cầm trên tay
tấm bảng “Chào các bạn Việt Nam!”. Vậy là nhận ra nhau rồi.
Họ là thành viên của Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị của thành phố
Los Angeles, khi được thông báo Đoàn công dân Hữu nghị của
Việt Nam sang Mỹ giao lưu tại hai thành phố Madison và Des
Moines sẽ chuyển chặng từ Los Angeles. Các bà mẹ người Mỹ
đưa ra đủ loại bánh kẹo, hoa quả, nước uống và ân cần đưa
đến tận tay từng người trong Đoàn. Trong số các bà mẹ người
Mỹ tới đón chúng tôi, có bà đã tới Việt Nam; hoặc là du lịch
hoặc là theo con đường giao lưu hữu nghị năm 1997, còn đa
phần là người chưa tới. Nhưng các bà mẹ người Mỹ đều biết
Việt Nam đã qua các cuộc chiến tranh và người Việt Nam phải
chịu nhiều đau khổ. Có bà mẹ đã sờ nắn khắp người chúng tôi,
ôm ấp chúng tôi rất lâu như ôm ấp đứa con xa nhà lâu ngày mà
bây giờ bà mới được gặp lại vậy.
Vừa tới sân bay được 10 phút và đang trong không khí đón
tiếp đầm ấm, nồng nhiệt giữa chủ và khách thì chúng tôi nhận
được điện của ông Chủ tịch Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị Mỹ -
ông Wayne Smith từ thành phố Atlanta gửi cho Đoàn. Ông
viết:“Thay mặt các thành viên thuộc Tổ chức Sức mạnh Hữu
nghị Mỹ, tôi muốn mời các bạn đến Mỹ. Phái đoàn của bạn là
một bộ phận quan trọng trong tổ chức hữu nghị của chúng ta
khi chúng ta tiếp tục tìm kiếm các con đường xây dựng những
nhịp cầu hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam và dân tộc Mỹ.
Khi các bạn bắt đầu tham gia Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị, tôi
xin thông báo rằng: Các thành viên chủ nhà của bạn đang mong
ước chia sẻ tình cảm và tiện nghi của bạn tại hai thành phố
thơ mộng Madison và Des Moines. Họ và những tổ chức chủ trì
ở hai thành phố này sẽ là những người tình nguyện làm việc
hết sức để chuẩn bị cho bạn một chương trình tối ưu nhằm
giúp bạn tìm hiểu sâu sắc đời sống Mỹ. Đây là dịp thuận lợi
mà hẳn bạn khó có được từ một chuyến công du với mục đích
thương mại hay một chuyến đi được chính phủ tài trợ. Tất cả
những người bạn chủ nhà của bạn hy vọng ở bạn rằng bạn sẽ có
cùng mong muốn tìm hiểu và phát triển tình hữu nghị mới.
Chúng tôi hy vọng rằng đây là nhóm đầu tiên trong số nhiều
phái đoàn sẽ tới thăm đất nước chúng tôi. Các bạn là phái
đoàn đầu tiên và điều quan trọng là chuyến viếng thăm của
các bạn phải là chuyến viếng thăm thành công - cả về phía
các bạn và cả những người tổ chức chúng tôi. Nếu các bạn
quan niệm chuyến viếng thăm của mình là để hy vọng tìm thêm
nhiều bạn mới thì tôi tin chắc rằng đây sẽ là một cuộc hành
trình thú vị cho bất kỳ ai tham gia”.
Khi Đoàn rời Los Angeles tới sân bay Madeson đã thấy khoảng
trên 20 người là người của Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị bang
Wisconsin tay cầm cờ Mỹ, tay cầm cờ Việt Nam ra tận cầu
thang máy bay đón Đoàn Việt Nam. Các ông bà người Mỹ tự tay
gắn huy hiệu Hữu Nghị - cờ Mỹ và cờ Việt Nam - lên ngực áo
các thành viên của Đoàn.
Bà Fannie Hicklin người da đen, giáo sư trường đại học ở
Wisconsin đọc bài diễn văn với tiêu đề “Một thế giới bè bạn
- Một thế giới hòa bình” rất xúc động nói lên nguyện vọng
của nhân dân Mỹ và muốn làm bạn với người dân của tất cả các
nước.
Ngay tối đầu tiên tới Des Moines, bạn Mỹ mời Đoàn Việt Nam
xem dàn nhạc thuộc Trường đại học Wisconsin Varsty biểu diễn
tại nhà hát Quảng trường Des Moines với sức chứa 2 vạn người.
Tuy là dàn nhạc của trường đại học, nhưng thực sự nó đã là
niềm tự hào của bang Wisconsin bởi quy mô hoành tráng của
ban nhạc với 150 nhạc công cùng 250 diễn viên biểu diễn theo
hình dáng và tầm vóc của con tàu “Titanic” huyền thoại. Dưới
sự phô trương của hàng nghìn pha đèn điện tử, với âm thanh,
tiếng nổ và sự cuồng nhiệt của 11.000 khán giả rất “Mỹ” đã
làm nổ tung bầu trời thành phố Des Moines vốn dĩ rất thanh
bình, yên ả về đêm.
Ban nhạc Wisconsin Varsty với nhạc trưởng Mike Leckrone
“quái dị” đã biểu diễn nghệ thuật pha cả bạo lực, hài hước
và cách tiếp thị rẻ tiền đã thực sự là trò mua vui cuốn hút
một cách hả hê hơn một vạn khán giả có mặt tại nhà hát Quảng
trường Des Moines.
Mở đầu chương trình biểu diễn, trước 3 màn hình cực đại
chính làm phông của sân khấu là cảnh “ông bầu” nhạc trưởng
Leckrone trong bộ đồ “lính tẩy” quần trắng, áo trắng, mũ
trắng hớt haiã kiểu hài “Chaplin” mác France chạy loạn xạ
trên đường để kịp tới nhà hát. Ông bầu vào “lộn cửa” đã phải
“ẩu đả” nhào lộn đủ kiểu để tới được chỗ ngồi đúng số ghế
trong vé của nhà hát.
Trong suốt 3 tiếng đồng hồ “nhạc trưởng” Leckrone cùng ban
nhạc và hơn hai trăm diễn viên của nhóm Wisconsin Varsity đã
biểu diễn một chương trình “thập cẩm tạp pí lù”: Từ tác phẩm
All night long (Tất cả đêm tối đều dài) cho tới các giai
đoạn của opera, của nhạc pop, rock, jazz, dân ca, các bài
hát đồng dao lẫn những bài hát “tủ”, những bản nhạc “tủ” mà
các diễn viên, nhạc công dùng tới cả trống, mõ, kèn... và
“sáng tác” ngẫu hứng ngay trên sân khấu.
Thật “Mỹ” và cũng thật nghệ thuật “kiểu Mỹ” là trong đêm
biểu diễn “nhạc trưởng” Leckrone đã sử dụng tới cả màn “đưa
ma” thực sự tại quảng trường nhà hát. Giữa đêm diễn, bất ngờ
khán giả dựng cả tóc gáy khi thấy kèn đám ma tò te tí te sầu
thảm, u buồn nổi lên ở một khán đài. Rồi người ta thấy
khoảng 50 diễn viên lực lưỡng vận toàn đồ đen mang kèn,
trống và khiêng một quan tài phủ cờ Mỹ diễu qua sân khấu.
Chưa đủ với “tông giật” kiểu Mỹ để kích động cảm giác mạnh
của hàng vạn người xem, đích thân “nhạc trưởng” Leckrone
biểu diễn màn nhào lộn cùng với những tiếng nổ đùng đùng như
đại bác và hàng vạn pháo hoa từ các góc khán đài bắn lên.
Ấy vậy mà các khán giả Mỹ thật hào hứng. Hơn một vạn khán
giả đã không còn là khán giả; họ đã trở thành diễn viên từ
lúc nào. Nhiều chương trình họ đứng cả dậy, hò reo, vỗ tay
và ôm nhau nhảy cuồng nhiệt mặc dù chúng tôi hỏi một vài
khán giả rằng họ có hiểu nội dung bài hát hay không thì họ
lắc đầu và nói “No” - không. Chẳng hạn như bài hát “Vũ điệu
gà quay”....
II
Danh sách Đoàn công dân Hữu nghị Việt Nam tới thăm Mỹ gửi
fax nhanh cho bạn là 20 thành viên. Nhưng “tại 2 cái visa”
không hợp lệ khi vào Mỹ thiếu những... 3 ngày nên Đoàn bị
rớt 2 người, thành thử Đoàn Việt Nam tới Madison chỉ còn 18
người trong khi các bạn Mỹ đã lên danh sách đủ cho 20 thành
viên “ba cùng” tại các gia đình của bạn. Vậy là có một gia
đình của bạn không được đón thành viên nào của Việt Nam.
Thấy bạn buồn, chúng tôi bèn tách “một hộ” Việt Nam hai
người thành hai “hộ người Mỹ”. Vậy là được lòng bạn nhưng
lại nảy sinh một tình thế: Có một thành viên Việt Nam không
biết tiếng Anh lại ở một gia đình người Mỹ không biết tiếng
Việt. Tuy nhiên, khi đưa ra phương án trên thì cả bạn và ta
đều vui vẻ thống nhất sẽ sử dụng ngôn ngữ... câm trong giao
tiếp. Bạn còn bảo: Quý nhau là ở tấm lòng...
Tôi và nhà truyền hình Trần Đăng Tuấn ở nhà Tiến sĩ Ray
Event. Ông đã 65 tuổi và là giáo sư thực vật học của Trường
đại học Wisconsin. Căn hộ của Tiến sĩ Ray ở trên một khu đất
rộng hơn 2.000m2. Nhà làm khiêm tốn ở giữa; trước,
sau, xung quanh là đất vườn trồng hoa, cây cảnh và cây lưu
niên như sồi, anh đào. Nhà của ông phải qua một con đường
mới tới một cái hồ lớn, ông bảo vì ở gần hồ được hưởng phong
cảnh và môi trường thơ mộng của đất nước Mỹ nên Nhà nước thu
tiền “cảnh quan” của gia đình ông là 12.000 USD/năm. Rồi ông
chỉ những gia đình thượng lưu có biệt thự ở ven hồ đã phải
đóng “thuế cảnh quan” tới 20.000 USD/năm. Ông cười và nói
thêm:“Ở nước Mỹ, nếu có phải mua một cái tăm thì bạn cũng
phải đóng thuế”. Gia đình ông thuộc tầng lớp trung lưu. Ông
là giảng viên trường đại học, lương tháng 6.000 USD; vợ ông
- bà Mary - làm ở Đài Truyền hình Madison, đã nghỉ hưu,
hưởng lương bảo hiểm 1.800 USD/tháng. Cuộc sống của gia đình
ông tiêu biểu cho một lối sống căn cơ, trật tự và thanh bình
của người Mỹ. Gia đình ông không thiếu một cái gì và cũng
không thừa một cái gì. Ông, bà mỗi người có một xe riêng, và
đồ dùng trong gia đình đều được máy móc hoá, tự động hoá tới
cả chiếc bàn chải đánh răng (người chủ chỉ việc há mồm đưa
bàn chải vào răng và bấm nút). Gia đình Tiến sĩ Ray cũng như
bất cứ một gia đình người Mỹ nào, khi đã đưa khách vào nhà
là coi khách như người trong gia đình. Ông bà để chúng tôi
tự do, muốn ăn gì, uống gì và làm gì tùy thích trong một căn
nhà mà hầu như tất cả các phòng đều không có khoá nhưng mọi
thứ đều được sắp đặt một cách ngăn nắp, đẹp đẽ và sạch tới
mức tưởng như các đồ vật được khử trùng ở các phòng thí
nghiệm. Chính sự tự do trong cái trật tự, kỷ cương đặc trưng
kiểu Mỹ này đối với lối sống văn nghệ sĩ của chúng tôi quả
là “khó thở”.
Trước hết nói về ăn. Người Mỹ cũng dùng 3 bữa ăn: sáng, trưa
và tối. Người Mỹ không tính chuyện khách ăn ít hay ăn nhiều,
mà điều quan trọng là những món gì đem ra là cả chủ và khách
phải cố mà ăn cho hết các thứ “thực phẩm bao bì” của Mỹ.
Điều này thật khổ với bữa điểm tâm buổi sáng nếu không phải
là bánh mì kẹp thịt kèm với đủ các thứ bơ, mứt, dầu... thì
cũng là cơm chan sữa. Bụng đã no và ngấy quá trời thì cũng
cố mà nhắm mắt nuốt cho tới hạt cơm cuối cùng, thìa sữa cuối
cùng trong bát kẻo người Mỹ cứ căn vặn:“Sao mày không ăn hết
đi, phí quá!”.
Cái khổ thứ hai là sinh hoạt, đi lại. Tôi và Đăng Tuấn được
gia đình chủ bố trí mỗi người một phòng (một tầng một và một
tầng hai). Phòng nào cũng gần một phòng vệ sinh riêng biệt,
trong đó từ bồn tắm cho tới lavabo, “bệ bệt” đều sạch bong
không vương một hạt bụi, một giọt nước. Tắm táp và vệ sinh
xong cứ phải lấy khăn thấm từng giọt nước ở các khe kẽ cửa
và săm soi khắp phòng xem có lỡ rớt vài sợi tóc... để làm
bạn phiền lòng. Bạn đọc cứ tưởng tượng xem, đêm đêm, trong
khu nhà vắng lặng, u tịch, bạn đã cho ta cả một “thế giới tự
do” lẽ nào ta lại phải mất tự do của bạn bằng tiếng dép lẹp
xẹp hay tiếng sì si ùng ục của vòi xả nước trong bình, bệ
khi cần phải “đào thải”, “tẩy rửa” cái thứ “cặn bã” dồn ứ
trong người. Đã có những đêm, tôi rắp tâm nén... mọi nhu
cầu, nhưng rồi chịu không xiết, tôi đành nín thở, rờ rẫm
nhón nhẹ bước chân đến phòng vệ sinh và ri rỉ “bài tiết”,
“nghệ thuật” kiểu mưa dầm để không làm ảnh hưởng tới cái
“thế giới tự do” của bạn. Đã quá cực về cái khoản “đầu vào,
đầu ra” rồi, tôi lại còn phải vật vã với cơn nghiện... thuốc
lào. Biết cái tính xấu của mình là bỏ cái gì thì được chứ
thuốc lào với tôi nó là “ruột”; không có nó, tim , gan cứ
lộn phèo, đầu óc thì lơ lửng và chân tay cứ thiếu thừa thế
nào nên trong túi “đồ nghề” đi Mỹ, tôi đã thủ sẵn 5 gói
thuốc lào hiệu Con gà Hàng Bồ chính gốc và chiếc điếu cày
nhỏ, dài một gang, nhét kỹ vào chiếc túi nilon in mác An
ninh thế giới. Thưa bạn đọc, dẫu biết rằng ở Mỹ, người có
văn hoá là người không hút thuốc ở các công sở và trong gia
đình nhưng tôi lại được thấy, được nghe và được xem trên báo
đàng hoàng; và chụp cả ảnh cảnh nhà thơ Nguyễn Duy, nhà văn
Giang Minh Sài - Lê Lựu đang “bắn” điếu cày giữa thanh thiên
bạch nhật ở đường phố Boston và ở cả cổng Trường đại học
Harvard trước một lũ trẻ Mỹ ngó nhìn hai ông như “người Sao
Hỏa” nữa kia. Vậy mà tới tôi, khi sang tới đất Mỹ, tôi không
biết hút ở đâu và hút vào lúc nào? Trong ba mươi sáu kế, suy
đi tính lại tôi quyết định áp dụng kế sách... chuồn ra khỏi
nhà bạn ban đêm và ra đường đứng “bắn” một bi cho đỡ nhớ.
“Đã” được cơn ghiền thuốc lào, nhưng hút xong rồi thì một
vấn đề khác lại nảy sinh: Vậy thì giải quyết cái “bã” của bi
thuốc lào sao đây? Bởi vì tôi biết rằng với người Mỹ, họ
không bao giờ và không khi nào chấp nhận cái “cặn bã” từ
chiếc điều cày của tôi thải ra trên đất nước họ. Trái lại,
dù rằng tôi đang đứng giữa đất trời của “thế giới tự do” tôi
cũng quyết không chịu để mình mất tự do khi phải lén lút đổ
cái “tự do” của mình trên đất Mỹ. Nghĩ vậy nên tôi đã “nhả”
bã thuốc lào vào chiếc túi nilon và tôi đã mang cả chiếc
điếu cày về và bỏ vào thùng rác sân bay Nội Bài. Tôi thấy
lòng mình thật thanh thản.
Trong những ngày ở nước Mỹ, chúng tôi được các bạn Mỹ đón
tiếp, bố trí ăn ở, đi lại thật chu đáo. Và cũng chính được
“ba cùng” với người dân Mỹ ngay trên đất Mỹ, chúng tôi đều
có một ý nghĩ: Nhìn chung, người dân Mỹ cũng có nhiều tính
cách giống người Việt Nam, đó là lòng nhân hậu, tốt bụng,
cần cù, chịu khó, có ý thức trách nhiệm với công việc và đặc
biệt là lòng yêu nước, lòng tự hào về đất nước họ. Có lẽ, ấn
tượng về người Mỹ đẹp đẽ nhất trong tôi là hình ảnh của các
bà mẹ người Mỹ mà tôi đã gặp. Đó là bà Mary - gia chủ của
tôi, vợ Giáo sư Tiến sĩ Ray Evert. Bà Mary là một người đàn
bà tuyệt vời của nước Mỹ cả về nghĩa thực con người và cả về
ý tưởng, tính cách. Tuy đã 60 tuổi nhưng bà vẫn giữ được
dáng nét sport (thể thao) và rất duyên dáng trong ăn mặc,
giao tiếp. Công việc của bà hằng ngày: Sáng 6 giờ tập thể
hình, sau đó chuẩn bị bữa ăn điểm tâm cho mình và cho chồng.
8 giờ bà tự lái xe đi làm các công việc xã hội - từ thiện
cho đến chiều, trên đường về ghé xe vào siêu thị mua đồ ăn
và chuẩn bị bữa ăn cho gia đình và cho cả chim chóc thiên
nhiên của nước Mỹ chợt đến, chợt đi trong khuôn viên của gia
đình bà. Sau bữa ăn tối, Giáo sư Tiến sĩ Ray ngồi đọc báo,
xem truyền hình, còn bà Mary đeo tạp dề như một bà lao công
lau dọn nhà, tỉa tót cắm hoa hoặc pha cà phê, chè cho đức
ông chồng. Bà Mary cũng như bất kỳ một người đàn bà Mỹ nào
mà chúng đã gặp, đã hỏi chuyện. Bà không quan tâm tới thể
chế chính trị, thời cuộc. Bà không cần biết tới hiện này
nước nào trên thế giới đang đánh nhau và người Mỹ đưa quân
đi “thiết lập lại trật tự” của những nước nào. Trong bà cũng
không hề có khái niệm “Tư bản”, “Cộng sản” hay “nhân
quyền”... thậm chí ngay cả với chúng tôi - những người khách
ngoại quốc đầu tiên tới gia đình, thì bà cũng chỉ cần biết
rằng: Chúng tôi là người Việt Nam, là khách, là bạn của nước
Mỹ, của gia đình bà và bà phải có nghĩa vụ đón tiếp, phục vụ
chu đáo để chúng tôi hài lòng. Hôm đón chúng tôi từ sân bay
Madison về nhà, việc đầu tiên bà bảo chúng tôi có đồ dơ bẩn
gì đưa hết cho bà giặt ủi. Tôi và Đăng Tuấn đưa mắt nhìn
nhau ái ngại bởi trước khi sang Mỹ, Hội Việt-Mỹ có phổ biến
kinh nghiệm rằng: “Ta” nên chuẩn bị ít quà lưu niệm tặng bạn
như tranh sơn mài, tranh lụa, tượng gỗ, túi thổ cẩm... những
thứ “lạ”, nhẹ nhàng, mang bản sắc Việt Nam mà bạn thích. Và
“ta” ở nhà bạn, buổi tối giao tiếp với đàn ông Mỹ, “ta” cũng
nên có chai rượu “Lúa mới” để mời bạn”... Vì thế mà trong
vali hành lý sang Mỹ của tôi có một chai rượu “Lúa mới” được
xếp giữa đống quần áo và túi thổ cẩm định bụng để sang làm
quà cho bạn. Ai dè trên đường “bay” hàng vạn km từ Đông sang
Tây bán cầu và phải qua mấy lần transit, chai rượu “Lúa mới”
bị bể vỡ từ lúc nào nên khi tới nhà bà Mary, giở vali ra
thấy toàn bộ quần áo, đồ lưu niệm ướt nhòe và “ướp” toàn mùi
rượu... Đã biết quá rõ người Mỹ là văn minh, là sạch sẽ từ
trong nhà ra ngoài phố; lại lần đầu tiên mang “thể diện quốc
gia” sang Mỹ, nên trên người tôi luôn đeo lỉnh kỉnh những
máy ảnh, máy quay phim hiệu Japan loại xịn, định bụng để
người Mỹ phải lóa mắt, phải kính nể cái anh trông bề ngoài
thấp bé, nhẹ cân... Vậy mà, “sự” đổ bể của chai rượu trong
hoàn cảnh này thì bạn đọc bảo tôi phải xử lý làm sao đây(?).
Đang trong lúc tôi như Từ Hải chôn chân giữa phòng, còn Đăng
Tuấn hấp háy mắt, rinh rích cười thì cái nhạy cảm bản năng
của người phụ nữ ở bà đã “cứu” tôi. Bà bảo:“Trong đồ đoàn
của chúng mày có gì không ổn nên chúng mày ngại nhờ tao phải
không?”. Rồi không để chúng tôi phải lý giải, bà bảo chúng
tôi mở vali và bà hiểu tất cả là tại chai rượu vỡ. Bà cười
đôn hậu và rất cẩn trọng mang máy hút bụi, hút tất cả các
mảnh vỡ li ti của chai rượu Lúa mới vương trong đống quần áo,
vật dùng của tôi, xong việc phải mất hơn tiếng đồng hồ. Sau
đó bà lại hì hụi đưa vào máy giặt và cả buổi tối hôm đó bà
đứng ủi một đống áo quần hổ lốn của tôi. Hằng ngày, thấy
chúng tôi hay quan tâm, quan sát tới cái chức phận làm vợ,
làm mẹ của bà Mary, ông Tiến sĩ Ray bảo:”Chắc chúng mày muốn
tìm hiểu người đàn bà Mỹ là người như thế nào chứ gì? Tao
nói để chúng mày hiểu, đừng tưởng bà ấy chỉ biết bếp núc và
chỉ biết nép mình trong cái ống quần của chồng, con đâu nhé.
Tao sẽ chỉ cho chúng mày thấy bà ấy hiểu về đẳng cấp xã hội
như thế nào và cái giá của sự vinh quang trong lao động sáng
tạo là như thế nào?”. Nói rồi ông xăng xái lôi chúng tôi vào
căn phòng làm việc của ông. Trời ơi, căn phòng của một nhà
trí thức lớn nước Mỹ với cơ man nào là sách sao lại kín đáo
thế này? Trong lúc chúng tôi còn ngỡ ngàng ngắm nghía đủ các
loại sách gáy vàng, gáy đen thì ông chỉ vào một bức ảnh có
chiều ngang chừng hơn một gang tay được lồng trong một khung
ảnh bình dị và được đặt ở một góc khuất nẻo, lẫn giữa các
gáy sách đã ố vàng. Ông Tiến sĩ Ray nói:“Mày có biết bức ảnh
ai đây không? Nó chính là bức ảnh chụp Tổng thống Jimmy
Carter trao phần thưởng lớn về công trình khoa học nghiên
cứu về thực vật học của tao. Ban đầu, tao định làm ảnh lớn
và đặt trang trọng ở phòng khách cho oách, cho oai nhưng bà
ấy bảo:”Không có Tổng thống này thì Tổng thống khác trao cho
ông. Điều ấy không quan trọng mà cái quan trọng, cái quí giá
nhất là ở công trình khoa học của ông có mang lại lợi ích
dân sinh không? Ông vinh quang từ trong sách vở, từ trong
khoa học và từ cái căn phòng mà ông làm việc đêm đêm kia.
Vậy thì ông hãy mang cái bức ảnh này đặt vào trong phòng
sách, phòng làm việc của ông”. Điều Tiến sĩ Ray nói về bà
Mary đã làm tôi giật mình về nhận thức xã hội sâu sắc của
người phụ nữ tưởng như chỉ biết bếp núc, chồng con và ăn
diện kiểu Mỹ. Nhưng tôi còn ngỡ ngàng hơn một lần nữa khi bà
Mary bảo sẽ đưa chúng tôi tới thăm “Nhà Trắng” của thống đốc
bang và cũng là nơi làm việc của chính quyền sở tại. Tôi
hỏi:“Bà đã xin phép “người ta” chưa?” thì bà trả lời:“Chưa.
Nhưng chúng tao - nhân dân của bang này đã làm ra nó thì tại
sao tao lại không có quyền vào. Với ngay cả thị trưởng,
thống đốc bang hay tổng thống thì chúng tao cũng là người đã
bầu ra họ”.
III
Dẫu biết rằng nước Mỹ là một đất nước của Hợp chủng quốc
với đa dân tộc, với đủ các loại người da trắng, da đen, da
vàng, da đỏ từ Châu Á, Châu Âu, Châu Phi... hợp thành; nước
Mỹ được người ta biết đến từ sự phát hiện tình cờ của nhà
thám hiểm người Ý- Christopher Columbus - vào năm 1492 và
nước Mỹ có lịch sử hơn 200 năm từ Tuyên ngôn độc lập của
Tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ George
Washington vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 với những câu bất hủ
mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nhắc lại trong bản Tuyên
ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rằng: “Tất
cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền
ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc...” và, dẫu biết rằng cho đến nay nước Mỹ đã trở thành
siêu cường về nhiều lĩnh vực thì những ngày ở nước Mỹ chúng
tôi luôn luôn đi tìm cho câu hỏi: Người Mỹ - Họ là người như
thế nào?
Như ở phần đầu của bài viết này, tôi đã nhắc nhiều tới lối
sống, sinh hoạt của gia đình Tiến sĩ Ray Evert - một gia
đình đại diện cho tầng lớp trung lưu của người Mỹ. Còn những
người dân bình thường của nước Mỹ thì sao? Thật may, tôi đã
tình cờ gặp David - một người dân có cuộc sống bình dị và có
phần hèn kém về đẳng cấp, địa vị trong quan hệ của cộng đồng
người Mỹ mà chúng tôi đã gặp. Sở dĩ tôi có nhận xét ấy là
bởi trong một bữa tiệc chiêu đãi của Tổ chức Sức mạnh Hữu
nghị tại thành phố Des Moines tiếp bạn Việt Nam , tôi thấy
có một người đàn ông đứng tuổi, cao lớn (dễ tới 2 mét) nhưng
lại thật lẻ loi, câm lặng, buồn buồn giữa những người Mỹ
khác hồ hởi, tự nhiên trong giao tiếp. Hỏi ra, tôi được biết
anh là một người dân nghèo. Có thể là do tự anh mặc cảm về
đẳng cấp xã hội thấp kém của mình và cũng có thể do quan
niệm, do lối sống sòng phẳng, rạch ròi của người Mỹ: Người
giàu không chơi với người nghèo. Vì thế mà chỉ đến khi tiếp
xúc với chúng tôi, David mới có được nụ cười và có được sự
tự tin vốn có của người Mỹ. David là một người lính đã có 2
năm ở trong quân đội viễn chinh Mỹ và đã từng tham chiến ở
chiến trường Quảng Ngãi - Việt Nam từ năm 1968 cho tới đầu
năm 1970. David năm nay vừa tròn 50 tuổi. Hết quân dịch và
từ chiến trường Việt Nam trở về, anh được lộc Chúa cho làm
nhạc công pianô ở nhà thờ Tin Lành Des Moines với sở trường
chơi rất hay các bài Thánh ca. Tôi hỏi David: “David sống
với ai?”. David cười chua chát:“Tao sống với một con chó và
bức ảnh của thằng bạn người Việt Nam mà tao quen ở chiến
trường Quảng Ngãi”. Tưởng David diễu đời, tôi cười sằng sặc.
David kéo tôi ra chiếc xe hiệu Honda Civic cũ mèm, máy nổ
như máy cày, chở tôi về nhà. Nhà của David cũng đầy đủ như
mọi gia đình người Mỹ khác, nghĩa là có vườn trước, vườn sau
trồng cỏ xanh rờn, có gara để ôtô, có tivi, tủ lạnh, bếp ga,
phòng tắm, phòng ngủ, phòng ăn... David kéo tôi vào: Nhà
lạnh ngắt, có mùi tanh hôi của cuộc sống thiếu vắng bàn tay
người. David đẩy cửa phòng ngủ: Một con chó xù, mắt đùn dử,
nhảy bổ ra và ôm cứng lấy cổ David. David chỉ tay vào một
bức ảnh đã ố vàng chụp một người lính ngụy Sài Gòn chừng hơn
hai mươi tuổi. Nét mặt người lính ngụy không vui, không buồn.
Tôi hỏi:“David có còn liên lạc với người trong ảnh kia không?”.
“Không - David nói - Từ ngày rời Việt Nam , tao không nhận
được tin nó. Không biết là nó còn sống hay đã chết. Với tao,
từ ngày bỏ áo lính cho tới nay, lúc nào tao cũng sống bằng
hoài niệm”. Thấy David buồn, tôi hỏi về cuộc sống hiện tại
của anh, David nói:“Căn nhà này tao mua 30.000 USD bằng tiền
vay của ngân hàng Nhà nước và phải trả góp trong vòng 30 năm
- David đưa tay vuốt cái đầu nhẵn bóng đã hói tới gáy của
anh, cười khùng khục - Tao đã 50 tuổi rồi, liệu không biết
có sống nổi gần 30 năm nữa để đủ trả hết nợ căn nhà này
không? Luật pháp Mỹ, khi chết mà chưa trả hết nợ vay Nhà
nước thì Nhà nước tịch thu nhà. Mà mày biết mỗi tháng tao
phải trả nợ góp bao nhiêu không? 370 USD/tháng. Trong vòng
30 năm - có nghĩa là tổng số tiền tao phải trả là hơn
100.000 USD, gấp 5 lần với giá trị mua ban đầu. Lương tao
chúa trả 1.500 USD/tháng, ngoài tiền trả nhà, tao còn phải
trả góp tiền mua xe, mua tivi, tủ lạnh, bếp ga và các thứ
linh tinh khác hết hơn 400 USD. Còn lại hơn 600 USD, vừa đủ
nuôi tao và một con chó”. Tôi lại hỏi:“David đã từng đi lính,
Nhà nước Mỹ không có chính sách ưu đãi sao?”. David trầm
lặng đến một lúc lâu, rồi anh nói:“Chúng tao là người lính
của một đất nước bất khả chiến bại, đó là niềm tự hào của
nước Mỹ đã trải qua gần hai chục cuộc chiến tranh với các
nước. Vậy mà chỉ duy nhất chúng tao thua trong cuộc chiến
tranh với Việt Nam . Chúng tao là người con của nước Mỹ vĩ
đại, nhưng chúng tao không mang lại vinh quang cho nước Mỹ.
Chúng tao cũng như nước Mỹ không có niềm vinh dự gì để mà
khoe khoang trong cuộc chiến tranh này. Vì thế mà chúng tao
chịu thua thiệt trong cộng đồng người Mỹ vốn có dòng máu tự
hào về một đất nước hùng cường thì cũng đúng thôi”. Nói rồi
David kể cho tôi nghe buổi đón tiếp những người lính từ
chiến trường Irắc trở về mới đầu tháng 4 năm nay. Anh bảo
hôm đó ở thủ phủ của bang là cả một biển người và cả một
rừng hoa. Người Mỹ đón những người anh hùng đã chiến thắng
trở về mặc dù chưa có một người lính Mỹ nào phải bắn đến một
viên đạn. Và, những người lính từ Irắc trở về được các nhà
tài phiệt, các nhiệm sở của Nhà nước, của chính quyền sở tại
bố trí việc làm ngay với mức lương cao. Điều David kể về
thân phận hẩm hiu của những người lính viễn chinh Mỹ sau
cuộc chiến ở Việt Nam trở về tôi chưa tin. Tôi nói lại với
David rằng theo như tôi được biết thì đã có rất nhiều cựu
chiến binh Mỹ sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam về Mỹ họ đã
trở thành các nhà tư bản lớn, trở thành nghị sĩ, trở thành
giáo sư, nhà văn, nhà báo và là giảng viên ở các trường đại
học. David lại cười và bảo:“Họ là lớp con dòng cháu giống.
Luật pháp Mỹ khi đã huy động lính cho các cuộc chiến tranh
thì bất kể là con ai cũng phải vào quân ngũ. Nhưng mày thử
tính xem, trong số hơn triệu người lính Mỹ đã từng tham
chiến ở Việt Nam thì số trở thành các nhà tư bản, các nghị
sĩ, trí thức lớn là bao nhiêu? - Để minh chứng cho cách đánh
giá của mình, David còn bảo tôi - Mày đã đi một vài bang của
nước Mỹ và mày đã tiếp xúc với một số thượng nghị viện, hạ
nghị viện, một số thị trưởng, thống đốc và các quan toà, mày
có thấy họ đều là người giàu, là tầng lớp thượng lưu của xã
hội Mỹ không? Nước Mỹ có tự do và dân chủ trong bầu cử và
mọi cuộc bầu cử đều đứng đắn, không gian lận nhưng có bao
giờ người nghèo có “ghế” ở các chức vụ quan trọng đâu? Vì
tranh cử, ứng cử rất tốn kém thì người nghèo lấy đâu ra tiền(?)
- Anh còn nói thêm - Mày cứ đến các nhà tù của Mỹ thì chỉ
thấy đa phần tù nhân là nghèo. Người giàu chỉ bị cầm tù với
các tội đặc biệt nghiêm trọng như giết người, buôn hêrôin
với khối lượng lớn. Còn các tội khác thì người giàu bỏ số
tiền lớn để thế chấp hoặc đóng tiền phạt và... ra tù. Luật
pháp Mỹ là thế, rất nghiêm và rất khoái... phạt tù. Hai vợ
chồng cãi nhau, đánh nhau to tiếng, nếu không phải là vợ
hoặc chồng làm đơn thưa thì hàng xóm... thưa hộ. Thế là phạt...
không tù thì tiền; gia chủ cho một con chó ăn cơm thừa canh
cặn, hàng xóm thưa cũng phạt tù, phạt tiền... vì đã vi phạm
“luật cấm hành hạ súc vật” của đất nước tự do. Nghe David
nói, tôi chợt nhớ mới đây hầu như tất cả các hệ thống thông
tin đại chúng của toàn cầu đều đưa tin rất đậm (có lời bình)
về việc “pháp đình” nước Mỹ đã quyết định tử hình một chú
chó không tuân thủ luật pháp Mỹ, đã săn đuổi một con ngựa
của một chủ trang trại... cho đến khi con ngựa kiệt sức lăn
ra chết, và chủ trang trại nọ đã thưa kiện đưa chú chó đó ra
toà, để đến nỗi Thượng viện Mỹ phải bàn ở hai phiên họp...
và quyết định một bản án tử hình dành cho chú chó.
Trong cả một thời gian dài ở nước Mỹ, ngày nào David cũng
đi chơi với chúng tôi. Và, với ai trong Đoàn Việt Nam David
cũng chỉ đề đạt một nguyện vọng: Được trở lại Việt Nam không
phải là để khoét sâu sự ngăn cách giữa người Mỹ và người
Việt mà là để chuộc lại lỗi lầm một thời đã trót cầm súng
chống lại người Việt Nam bằng cách được làm bất cứ một việc
gì có tính hướng thiện và thật sự hữu ích cho người Việt Nam
. David bảo: “Nếu được giảng dạy tiếng Anh ở các trường học
của Việt Nam là tốt nhất. David muốn có nhiều người Việt
biết tiếng Anh và nhiều người Mỹ biết tiếng Việt để người Mỹ
và người Việt xích lại gần nhau hơn”.
Điều mà David ước muốn thì cũng là tâm tưởng của nhiều cựu
chiến binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam mà chúng tôi đã
được kiểm chứng ở ngay trên đất Mỹ. Anh Jokle, Trạm trưởng
trạm chữa cháy số 1 của thành phố Madison, đã nói với chúng
tôi:“Hơn hai mươi năm trước tôi là một người lính đã cầm
súng đánh các ông ở mặt trận Quảng Trị. Nhưng mười năm lại
đây, tôi và các bạn tôi thường xuyên tới Việt Nam để hàn gắn
lại mối bất hoà và thiết lập một nhịp cầu hữu nghị”. Bằng
chứng là bằng kiến thức và nghề nghiệp của mình, người lính
chữa cháy Jokle cùng với các bạn đồng nghiệp của anh đã giúp
lực lượng chữa cháy của Hà Nội lắp đặt và hướng dẫn sử dụng
các phương tiện chữa cháy hiện đại để đáp ứng sự phát triển
của thủ đô. Trò chuyện với Jokle, tôi được biết anh bằng
tuổi tôi và năm 1970 Jokle vào lính sang đánh nhau ở Việt
Nam thì cũng năm đó tôi vào “lính” của bộ đội Cụ Hồ để đánh
Mỹ. Tôi và Jokle ở hai trận tuyến và đều chĩa súng vào nhau
một cách quyết liệt, sòng phẳng. Jokle có nhắc lại đôi chút
về những “kỷ niệm” buồn ngày còn cầm súng ở mặt trận Quảng
Trị năm 1971-1972. Rồi bất ngờ, Jokle ôm lấy vai tôi, xiết
thật mạnh chỉ về phía bầu trời xanh êm ả, thanh bình,
nói:“Thôi mày, chúng ta hãy cùng quên quá khứ đi và cùng dắt
tay nhau tiến về phía trước”. Có lẽ cách nhìn của Jokle về
cuộc chiến tranh ở Việt Nam, về quan hệ Việt-Mỹ hiện tại và
tương lai cũng là cách nhìn của đa phần nhân dân Mỹ.
Cho tới hôm nay, khi mà tôi đã rời nước Mỹ và về sống trên
đất của “ta”, hít thở không khí của “ta” đã nửa tháng rồi
nhưng tôi không thể nào quên được buổi chia tay với gia đình
Giáo sư Tiến sĩ Ray Evert. Buổi đó, ngoài nghi lễ cám ơn,
hẹn ngày gặp lại, hoặc là trên đất Mỹ, hoặc là ở Việt Nam,
thì tôi - Đăng Tuấn cùng Tiến sĩ Ray Evert ngồi uống rượu và
đàm đạo rất lâu những chuyện “trên trời dưới biển”. Khởi sự
là việc Đài Truyền hình Mỹ đưa tin sự kiện Pônpốt đã chết và
được hoả thiêu ô nhục bằng những chiếc lốp xe mục nát của
tàn quân Khơme đỏ. Tiến sĩ Ray Evert hỏi chúng tôi:“Từ khi
Việt Nam rút quân đội về nước thì Việt Nam có còn can thiệp
gì vào công việc của người Campuchia không?”. Chúng tôi nói:
“Khơme đỏ đã không những gây ra nạn diệt chủng giết hại hơn
một triệu người dân Campuchia mà còn xâm phạm, giết hại đồng
bào Việt Nam ở vùng biên giới. Vì thế Chính phủ và Nhà nước
Việt Nam của chúng tôi đưa quân sang để đánh đổ Khơme đỏ,
giúp nhân dân Campuchia lập lại hoà bình, tránh được nạn
diệt chủng và cũng là để giữ yên bờ cõi, bảo vệ tính mạng
của người dân Việt Nam ở vùng biên giới. Hoàn thành nhiệm vụ
xong, Chính phủ chúng tôi cho rút quân về. Còn công việc nội
bộ của người Campuchia thì Chính phủ của chúng tôi đã có
quan điểm dứt khoát công bố cho toàn thế giới rằng đó là
việc nội bộ của nhân dân Campuchia”. Nghe chúng tôi nói,
Tiến sĩ Ray Evert trầm ngâm và mãi ông mới nói:”Nước nào thì
cũng có công việc nội bộ của họ. Ở nước Mỹ chúng tôi thì
ngay cả ở “Nhà Trắng” và ngay cả trong nhân dân Mỹ cũng có
nhiều vấn đề phức tạp mà người Mỹ phải giải quyết. Vậy thì
tại sao “Nhà Trắng” lại cứ phải cử con em của mình để đi
thiết lập lại trật tự của các nước khác nhỉ? Chắc rằng những
ngày sống trên đất Mỹ, các ông đã nhận thấy một điều là cuộc
sống của người dân Mỹ quá yên ấm, thanh bình, thử hỏi có ai
lại muốn con em mình phải vác súng đi đánh nhau để gửi xác ở
nước người - Rồi ông nói thêm - Thời gian gần đây, qua các
kênh truyền hình của Mỹ, nhân dân Mỹ đánh giá cao việc những
cựu chiến binh Mỹ đã quyết tâm phanh phui việc giết hại dân
lành Việt Nam ở Sơn Mỹ - Quảng Ngãi của một số quân nhân Mỹ.
Cho tới nay thì người dân Mỹ đều cho rằng cuộc chiến tranh
của người Mỹ ở Việt Nam là một sai lầm khủng khiếp. Nhưng có
lẽ cũng vì thế mà nhân dân Mỹ đã đánh giá cao hành động
chống quân dịch, phản đối chiến tranh ở Việt Nam của Tổng
thống Bill Clinton lúc trẻ và việc quyết định bãi bỏ lệnh
cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam vừa qua của Bill”. Nói rồi
Tiến sĩ Ray Evert rót cho tôi và nhà truyền hình Đăng Tuấn
mỗi người một ly rượu đầy, ông nâng cốc cụng ly và hoan hỉ
“bật mí” cho chúng tôi biết: Đầu tháng 6 này, đích thân Tổng
thống Bill Clinton sẽ trao huân chương cao quý của Nhà nước
Mỹ cho hai Thượng nghị sĩ John Macken và John Plery - nguyên
cựu chiến binh ở Việt Nam - vì đã có công khởi đầu cho việc
vận động Chính phủ Mỹ bỏ cấm vận và mở ra nhịp cầu hữu nghị
Việt - Mỹ hôm nay. Và, ngày đó sẽ có cả Đại sứ ở Việt Nam
Peterson cùng với ngài Đại sứ của Việt Nam ở Mỹ Nguyễn Văn
Bàng...
IV
Sẽ là thiếu sót nếu muốn nói về lối sống Mỹ lại không đề
cập tới những mối quan hệ giữa người với người ở Mỹ. Trước
hết, nói về thế hệ lớn tuổi ở Mỹ (từ 45 tuổi trở lên). Họ
sống kỷ cương, mực thước và có phần thô cứng, song họ rất
lịch sự, văn hoá. Nếp sống của lớp người lớn tuổi này bạn cứ
hình dung nó được vận hành như một cỗ máy: Sáng, ai người đó
dậy, tự ăn sáng tuỳ thích (vì đã có “thực phẩm bao bì” chất
đầy trong tủ lạnh và các hốc tủ) và tự lái xe đi làm. Trưa,
ăn ở công sở (cũng vẫn là “thực phẩm bao bì”) và chiều, lái
xe về, chơi thể thao, tắm rửa, ăn tối, rồi ai về buồng người
ấy và lại sống theo sở thích của từng người. Sáng chủ nhật
họ đi lễ nhà thờ. Có gia đình thì cả hai vợ chồng cùng đi lễ
một nhà thờ nhưng đa phần là đi lễ tại các nhà thờ khác
nhau. Không hiểu từ nguồn thông tin nào nói rằng người Mỹ họ
“lạ” lắm, vì thế mà trước khi đi Mỹ, một người bạn tôi dặn:
Cậu đi “ở” với người Mỹ chuyến này cố tìm hiểu xem có phải
vợ chồng người Mỹ ở với nhau là họ “góp gạo thổi cơm chung
không?”. Sự thực không phải như thế. Tài sản của một gia
đình người Mỹ là tài sản chung, tuy lương của mỗi người thì
đều do “các” của ngân hàng Nhà nước giữ hộ; tiêu gì, mua gì
thì chỉ việc ấn “các” vào máy, Nhà nước sẽ lấy tiền của mình
ra trả hộ. Chỉ có điều, người Mỹ tiếp khách không như “ta”.
Chúng tôi đã dự bốn buổi chiêu đãi của bạn ở thành phố
Madison và thành phố Des Moines thì cả bốn tiệc chiêu đãi
đó, mỗi “gia chủ” của chúng tôi phải đóng góp theo thực đơn
của Tổ chức Sức mạnh Hữu nghị Mỹ ở thành phố đó phân công:
“gia chủ” này thì nước ngọt; “gia chủ” khác thì bánh mỳ, rau
quả; “gia chủ” kia thì thịt, bơ... Nếu là đi dã ngoại, Tổ
chức Sức mạnh Hữu nghị đưa cho mỗi thành viên của Đoàn Việt
Nam một phong bì 4 USD và nói:“Chúng mày tự mua đồ ăn. Nếu
muốn ăn thêm thứ gì thì bỏ tiền của chúng mày ra mà mua”.
Người Mỹ là thế: sòng phẳng, rành mạch... cho dù là một
chinh. Biết vậy nên dù là ở nhà Tiến sĩ Ray F.Evert ở, thành
phố Madison, hay ở nhà vợ chồng cựu vô địch quần vợt người
cao tuổi Harold ở thành phố Des Moines (họ đều là tầng lớp
khá giả của nước Mỹ) thì chúng tôi cũng rạch ròi với họ thế
này: Trong giấy mời ghi rõ bạn chỉ “bao” ăn, ở, nên đồ uống
chúng tôi tự nguyện tự túc bằng cách ra siêu thị của Mỹ mua
về và gia chủ của chúng tôi... O.K (tốt). Nhưng khó khăn
nhất trong chuyến đi Mỹ không phải là chuyện ăn và uống mà
là giải quyết “khâu” điện thoại về Việt Nam. Biết là bạn sẽ
không hài lòng nếu chúng tôi gọi điện thoại đường dài, nên
tại gia đình nhà cựu vô địch quần vợt Harold, chúng tôi thoả
thuận với “gia chủ” là gọi “cuộc” điện thoại nào về nước thì
chúng tôi xin thanh toán tiền “cuộc” ấy. Một tuần ở gia đình
ông Harold, chúng tôi gọi năm “cuộc”, mỗi “cuộc” chừng từ 3
tới 5 phút, tổng cộng chừng 15 - 20 phút, mà giá gọi đường
dài của nước Mỹ là 2USD/phút. Chúng tôi tính ang áng và đưa
cho ông Harold 50 USD. Nhà vô địch quần vợt “O.K”, vui vẻ
xếp tiền vào ví. Trước khi lên đường về nước, cả ông bà Tiến
sĩ Ray F. Evert và ông bà cựu vô địch quần vợt Harold đều
hỏi rất kỹ gia đình chúng tôi: vợ, con, tuổi tác, học
hành... thế nào? Và, bà tiến sĩ Ray F.Evert gửi tặng cho vợ
tôi một chiếc khăn lót nồi, con trai, con gái tôi mỗi đứa
một băng nhạc với lời đề tặng rất trang trọng. Còn ông cựu
vô địch quần vợt Harold tặng tôi và Đăng Tuấn mỗi người một
chiếc mũ Levis và một chiếc túi thể thao chừng hai, ba USD,
kèm theo lời giải thích:“Chúng mày là những người khách mà
tao quí nhất đấy!”. Ngược lại, đôi ba lần, chúng tôi có mời
vợ chồng nhà cựu vô địch đi ăn cơm Việt Nam tại các quán
người Việt Nam ở thành phố Des Moines, có đủ các món: bún bò
Huế, canh cua, nem, bún chả, dưa, cà và lẩu mắm miền Nam. Ăn
các món ăn Việt Nam, vợ chồng nhà cựu vô địch quần vợt thích
lắm. Cứ sau mỗi lần được chúng tôi mời là ông bà Harold cám
ơn đến... mấy ngày liền. Hình như tôi có cảm tưởng rằng
người Mỹ mời nhau đi ăn là trường hợp hiếm có lắm thì
phải...
Trên đây là một vài nét chấm phá về những quan hệ giữa người
Mỹ và chúng tôi - những người khách nước ngoài từ xa đến.
Còn mối quan hệ giữa lớp trẻ với thế hệ lớn tuổi ở Mỹ, chúng
tôi thấy mỗi gia đình người Mỹ thường là bố mẹ không sống
chung với con cái khi con cái đã tới tuổi trưởng thành. Đó
là một mâu thuẫn cơ bản khác biệt giữa hai thế hệ già và
trẻ. Xã hội và mọi gia đình người Mỹ chỉ có trách nhiệm với
những đứa trẻ khi chúng chưa tới tuổi mười tám. Còn khi đã
tới tuổi mười tám thì bọn trẻ phải tự bươn chải để sống, để
tồn tại. Chúng có thể đi học đại học nhưng phải vay tiền của
Nhà nước để đóng tiền học, tiền thuê nhà, tiền ăn trong suốt
những năm học. Sau đó, khi có việc làm thì Nhà nước trừ nợ
dần. Còn những đứa trẻ không học đại học mà đi làm ngay thì
chúng phải vay tiền Nhà nước mua nhà, xe và các đồ dùng
thiết yếu khác để phục vụ cuộc sống. Cách giáo dục, đào tạo
“rèn người” của người Mỹ nó có tính tích cực là để lớp trẻ
khi đã tới tuổi trưởng thành phải biết tự lập, phải tự vươn
lên và tự khẳng định mình trong cuộc sống. Nhưng điều này
chỉ thích hợp với những đứa trẻ có chí hướng, khoẻ mạnh. Còn
đối với những đứa trẻ yếu đuối, không có ý thức tự lập và
thích dựa vào bố mẹ thì khi bị đẩy ra ngoài xã hội quá sớm
chúng sẽ hụt hẫng, thất vọng và dễ hư hỏng, quậy phá. Điều
này lý giải vì sao xã hội Mỹ có nhiều nhà tù, nhiều tội phạm
và đa phần tội phạm ở tuổi thanh thiếu niên. Tôi xin lấy một
ví dụ “nhỡn tiền”: Hôm chúng tôi được bạn mời đi xem bảo
tàng chiến tranh của thành phố Madison, trên đường đi, chúng
tôi thấy một xe buýt cháy chỉ còn trơ bộ khung, khói còn
nghi ngút. Cạnh chiếc xe loang lổ những vết máu. Hỏi ra,
chúng tôi được biết: Có một thanh niên da đen vì không có
việc làm, không nhà cửa đã “nổi loạn” mang bom xăng tự chế
lên xe buýt tự thiêu, làm chết 3 hành khách đi trên xe và
khi cảnh sát tới can thiệp, y đã kịp rút súng bắn trọng
thương hai cảnh sát và tự kết liễu đời mình bằng một viên
đạn vào thái dương. Một tuần sau, ngày 21-5, trên tất cả hệ
thống thông tin đại chúng của Mỹ cũng đưa tin: Một ngày ở ba
bang của nước Mỹ (Texas, Washington và Oregon) đã có ba vụ
bắn chết nhiều người. Thủ phạm của cả ba vụ đều là học sinh
trung học còn tuổi vị thành niên. Trên tivi đã “tường thuật”
tỉ mỉ cảnh “cậu” học sinh Kim Kel 15 tuổi mặt búng ra sữa
nhưng to như một con bò mộng, khi bị cảnh sát thẩm vấn tại
Sở Cảnh sát bang Oregon, y đã rút lê giấu trong ống quần đâm
túi bụi vào hai cảnh sát. Khi khám nhà cậu học sinh quý tử,
cảnh sát thấy toàn mìn, bom tự tạo. Hỏi, cậu học trò Kim Kel
tỉnh queo chỉ vào hệ thống thiết bị điện tử sáng choang
trong phòng, nói cộc lốc: “Học trên mạng Internet...”.
Chúng tôi hỏi ông bà cựu vô địch quần vợt nước Mỹ Harold về
quan hệ cha mẹ - con cái, về quan niệm tình yêu, hạnh phúc,
về cách làm tiền - tiêu tiền của lớp trẻ Mỹ... Ông Harold,
83 tuổi nói:“Họ sống khác thế hệ chúng tôi. Họ có tính độc
lập, thực tế... nói đúng ra là họ sống thực dụng hơn chúng
tôi. Tất cả mối quan hệ họ đều giải quyết bằng đồng tiền. Họ
luôn nghĩ: Đồng tiền có thể giải quyết được tất cả”. Nghe
ông nói tôi mới chợt nhớ ra rằng: Chính ông bà Harold có 9
người con đều đã trưởng thành, trong đó có 3 người con ở
thành phố Des Moines. Người con cả của ông bà làm giám đốc
một công ty thiết bị điện tử ở cách ông một phố, đi ôtô mất
chừng mười phút. Vậy mà cả một thời gian dài ở nhà ông bà
Harold, chúng tôi không thấy người con trai cả hay vợ con
anh ta tới thăm bố mẹ. Hôm ông bà Harold đưa chúng tôi tới
thăm nhiệm sở của người con trai cả, vừa nhìn thấy bố mẹ,
anh con trai vội rút ví lấy ra một tờ ngân phiếu đưa cho ông
Harold và nói:“Chắc bố mẹ cần cái này”. Rồi anh cũng chẳng
cần mời bố mẹ lẫn chúng tôi ngồi chơi, anh giơ
tay:“Bye...bye” (tạm biệt) và xin phép vào phòng làm việc.
Ông bà Harold cũng không lấy thế làm buồn. Ông đút tấm ngân
phiếu vào ví và cười, tặc lưỡi, nói với chúng tôi: “Lớp trẻ
Mỹ - họ là thế đấy!”.
Trong những ngày ở thành phố Madison, chúng tôi có quen một
thanh niên Mỹ tên là Kiplan Luck. Luck năm nay 23 tuổi, đẹp
trai và rất thanh lịch. Luck làm ở một công ty xây dựng nhà
ở với nghề nghiệp can vẽ đồ bản, lương tháng 2.500 USD. Thói
quen của Luck và lớp trẻ như Luck là thế này: lương tháng đủ
ăn, đủ tiêu. Còn dư chút đỉnh thì các tối thứ sáu, thứ bảy,
chủ nhật (là những ngày nghỉ) họ kéo nhau ra quán bar. Ở đó
họ không bị ràng buộc bởi luật pháp của Nhà nước cũng như kỷ
cương, khuôn phép giáo điều của gia đình. Họ uống tuỳ thích,
hút tuỳ thích, chơi tuỳ thích và... ghẹo gái cũng tuỳ thích
với đủ các cô gái da trắng, da đen, da đỏ, da vàng... Cô thì
mặc hai mảnh, cô thì mặc một mảnh, có cô không mặc mảnh nào.
Quái đản hơn có cô mặc đồ lót bằng cờ Mỹ hoặc bằng mảnh vải
vẽ mặt Tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ... Luck bảo:“Lớp
trẻ Mỹ chúng tao là không gia đình. Nam nữ chúng tao thích
là đến với nhau, ở với nhau, không hôn thú, không cưới hỏi,
chán thì... bye bye, nếu có con với nhau, đứa nào thích nuôi
thì nuôi, không nuôi được thì đưa cho Nhà nước, cho xã hội
nuôi. Vấn đề cốt lõi của tình yêu là tiền. Hết tiền là hết
tình. Vậy thôi. Với người Mỹ, hạnh phúc gia đình chỉ có với
người già khi họ đã thừa mứa cái tình yêu cập nhật hiện sinh
thời trai trẻ”.
Luck đã có một chuyến đi du lịch Việt Nam và người Việt Nam
rất có ấn tượng đối với Luck. Từ đó tới nay - dù là đang
sống trên đất Mỹ nhưng Luck chỉ chơi với người Việt Nam.
Luck bảo người Việt Nam sống nhân hậu, đầm ấm, tình cảm vả
rất thoải mái, vô tư trong quan hệ, trong lối sống. Để kết
luận về câu chuyện tình yêu, Luck nói:“Ở Mỹ, đã không còn
khái niệm hạnh phúc, tình yêu, lòng thuỷ chung, sự trong
trắng ở cả nam và nữ của lớp trẻ...”.
V
Đến với nước Mỹ, một trong những ấn tượng mạnh mẽ nhất để
lại trong lòng du khách nước ngoài là cách nhìn về văn hoá,
cách nhìn về chiến tranh của bộ máy tuyên truyền khổng lồ
lắm tiền nhiều bạc của người Mỹ đã tạo dựng lên ở các bảo
tàng chiến tranh, các trung tâm vui chơi, triển lãm nghệ
thuật mà ở bất cứ thành phố nào của nước Mỹ cũng đều có. Cái
định hướng tuyên truyền kiểu Mỹ nó khác lạ, quái dị và đầy
mâu thuẫn với một đất nước mà ở đâu cũng thanh bình, yên ả,
đẹp như tranh vẽ. Và, nó cũng thật nghịch lý với lối sống đã
trở thành tính cách rất riêng của người dân Mỹ: trật tự, kỷ
cương, mang đậm dáng nét của lớp người có văn hoá.
Bạn đọc cứ hình dung ở một trung tâm nghệ thuật của một
thành phố nông thôn như Des Moines khuất nẻo, gần giáp với
Canada, nhưng nó đã được xây dựng quy mô hoành tráng với
tổng số tiền gần mười tỷ USD. Trong bảo tàng trưng bày khá
nhiều các công trình nghệ thuật của các danh họa nổi tiếng
thế giới như Van Gogh, Picasso, Léger, Miró, Goya, Gauguin,
Leonardo Da Vinci... Vậy mà tiếc thay, giữa những kiệt tác
đã trở thành kinh điển cho các trường phái hội họa như vậy,
lại được bày lẫn với những “tác phẩm” thể tự do được gắn cho
một cụm từ nghệ thuật:“Trường phái hội họa trừu tượng”. Và,
người Mỹ tự hào bởi nguồn gốc của trường phái này được khởi
sinh từ Mỹ vào đầu những năm 50. Mới hay, mới đẹp làm sao
cho lời giới thiệu “trường phái hội họa trừu tượng” đã được
đúc chữ vàng treo trang trọng ở tiền sảnh của bảo tàng nghệ
thuật Des Moines:“Đó là sự đa dạng về phong cách và nội dung
của tác phẩm đã để lại dấu ấn trên nhiều khuynh hướng hiện
đại. Ngày nay chúng ta có thể tự do gọi tên tác phẩm theo
nhiều khuynh hướng khác nhau. Hậu tố (ISMS) - chủ nghĩa hay
trường phái - ít được sử dụng và cái hay là ở chỗ thật khó
bình luận hoặc đánh giá tác phẩm. Cách đánh giá tốt nhất là
theo sở thích của mỗi người”... Quả thật Mỹ và đúng là Mỹ
khi chúng tôi được “chiêm ngưỡng” những “kiệt tác” nghệ
thuật thể tự do của Mỹ: Một bức họa chỉ có một màu sơn trắng
toát với hai chữ S (Hai chữ đầu của tên tác giả) ở góc dưới
bức họa, với giá: 1 triệu 800 nghìn USD. Một bức tranh đen
kịt (như bạn đọc đã thấy ở bài 1) giá 1 triệu 500 nghìn USD.
Lạ nữa, khi chúng tôi vào phòng trưng bày các “tác phẩm”
điêu khắc trừu tượng thể tự do. Cả một căn phòng lộng lẫy,
mênh mông với một thiếu nữ Mỹ xinh đẹp ngồi ở cửa phòng, vắt
mình trên một chiếc ghế cao, thả đôi chân dài, trắng như nõn
chuối, đang đung đưa theo nhịp của bài hát mà cô đang khe
khẽ hát. Ban đầu thì chúng tôi cứ tưởng đó chính là tác phẩm
nghệ thuật “sống” kiểu Mỹ, nhưng không phải. Sự thật cô chỉ
là người trông coi và giới thiệu “tác phẩm” giá 800 nghìn
USD là ba chiếc máy hút bụi được xếp theo hình tam giác lệch
nhau về độ cao, được dựng trong một chiếc tủ kính trong suốt
đặt ở giữa phòng mà khi vào chúng tôi cứ nhầm tưởng rằng đó
là phòng để máy hút bụi của bảo tàng nghệ thuật Des Moines.
Khi đến với các “kiệt tác” này của “Chúa Trời tự do” thì trí
nhớ của tôi lại chợt quay về với cảnh tượng kinh dị mà nền
văn hiến nước nhà đã phải một lần lên tiếng tẩy uế cái
“trường phái hội họa trừu tượng ba chiều” của một số họa sĩ
“tắc tỵ” của Việt Nam ta đã trưng bày một “phòng tranh” nào
xô màn bôi quẹt phẩm xanh, phẩm đỏ; nào củi gộc, mảnh sành
chum lọ; nào xoong thủng, chảo thủng... mà họ treo lủng lẳng
trước cửa thiền văn bia của 82 vị tiến sĩ ở Quốc Tử Giám -
Trường đại học đầu tiên của nước Việt Nam, dịp xuân Đinh Sửu
1997.
Đọc tới đây chắc có bạn đọc lăn tăn đặt câu hỏi: Thế thì
tại sao tác giả của bài viết này không chụp được bức ảnh về
“tác phẩm trừu tượng” của ba chiếc máy hút bụi và đăng cho
bạn đọc của An ninh thế giới “tận mục sở thị”. Thưa rằng,
đến với các trung tâm nghệ thuật, bảo tàng toàn cỡ “tiền tỉ”
của Mỹ và của nhiều nước khác, thì việc đầu tiên đối với các
khách tham quan là để máy ảnh, máy quay phim ở phòng lễ tân.
Vì thế mà tác giả tiếc rằng không thể đưa thông tin bằng
những hình ảnh kỳ thú kiểu Mỹ cho bạn đọc được. Tác giả xin
được gửi tới bạn đọc bằng chữ viết thay cho lời tạ lỗi.
Đến với Viện bảo tàng thế giới nằm cạnh một kỳ quan của
nước Mỹ: Hồ Mendota với một công trình thế kỷ đắp nổi hàng
trăm kilômét đường xuyên hồ, người xem thật bàng hoàng bởi
sự đầu tư công sức và tiền của cho một bảo tàng xứng đáng
với cái tên gọi “Bảo tàng thế giới”. Riêng với các gian, các
khu trưng bày lịch sử nước Mỹ và lịch sử thời tiền sử, người
xem phải đi khoảng từ 6 tới 8 tiếng đồng hồ. Ở đây, người
xem lại phải kinh hoàng bởi kỹ thuật làm giả cây cối to, cao
bằng dãy nhà năm bảy tầng và, đặc biệt là những bộ xương
khủng long, xương động vật thật thời tiền sử có từ hàng
triệu triệu năm mà người Mỹ đã không tiếc tiền, tiếc công
sức sưu tầm ở tất cả các nước trên thế giới để đưa về. Hỏi
giá tiền mua các bộ xương động vật thời tiền sử này, một
người thuyết minh của bảo tàng nói với chúng tôi:“Ước khoảng
hàng tỉ USD một bộ”. Lại còn vài trăm gian trưng bày lịch sử
phát triển của tất cả các nước trên thế giới với hàng vạn,
hàng vạn di tích, hiện vật thật được sưu tầm từ chính các
nước sở tại mang về thì mới biết cái khát khao muốn làm bá
chủ thế giới của người Mỹ như thế nào(?). Nhưng hỡi ơi và
méo mó thay, tại gian trưng bày có cái tên “Việt Nam”, chúng
tôi chỉ thấy người Mỹ bày lỏng chỏng một chiếc dậm úp cá,
một chiếc cày trâu, một chiếc riu xúc tép, một cái bình vôi,
một chiếc cối giã trầu và vài ba chiếc niêu, lọ đồ gốm Bát
Tràng cùng vài bộ áo quần một ống nhuộm chàm của các dân tộc
miền núi nước ta. Thấy chúng tôi đứng đăm chiêu ở gian trưng
bày hàng “Việt Nam” , một người của Viện bảo tàng xăng xái
chạy tới, nói:“Xin lỗi, có phải các ông là người Việt Nam và
các ông muốn chụp ảnh tại gian trưng bày nước mình phải
không? Tôi chụp ảnh đẹp lắm đấy, để tôi chụp cho!”. Chúng
tôi xua tay và nói với ông ta rằng:“Đất nước chúng tôi có
trên 4000 năm lịch sử. Sự phát triển của đất nước chúng tôi
không phải chỉ có vài thứ mà các ông đã cố ý trưng bày ở
đây...”. Người của Viện bảo tàng chưng hửng vì biết chúng
tôi không hài lòng. Ông ta xin lỗi và lủi đi. Còn chúng tôi
cũng không còn hứng thú gì để xem hết các thứ sưu tầm thập
cẩm của cái “anh” trọc phú lắm tiền Mỹ đã gồng mình, phồng
mang trợn mắt để cố tạo dựng nên một nước Mỹ có lịch sử, có
văn hoá mà mãi không thành này.
Thưa bạn đọc, tác giả của bài viết này muốn đưa bạn đọc đến
với Viện bảo tàng chiến tranh của Mỹ đặt tại Madison mà
người Mỹ rất tự hào. Theo như lời giới thiệu cũng được đúc
chữ vàng và in trang trọng ở các catalogue quảng cáo tặng du
khách khi vào thăm bảo tàng, rằng:“Đây là biểu tượng, là
niềm tự hào của những người lính Mỹ và của Tổ quốc Mỹ chỉ có
biết chiến thắng trong tất cả các cuộc chiến tranh vì sự
phát triển của nhân loại...”. Thế đấy, tư tưởng “vì nhân
loại” hay là để thống trị nhân loại, bạn đọc hãy cùng chúng
tôi xem. Trước hết là biểu tượng người lính Mỹ được đặt ngay
tiền sảnh của Viện bảo tàng: Một cái mặt của một thanh niên
Mỹ đội mũ lính được cách điệu ở chiếc mũi hếch dài như thanh
kiếm cong chọc ngược lên trời. Bức tượng bán thân của người
lính Mỹ được đắp phần thân toàn là những chiếc đầu lâu
người. Tôi hỏi một người của Viện bảo tàng về ý nghĩa của
bức tượng. Người của Viện bảo tàng nói:“Biểu tượng người
lính Mỹ cũng là biểu tượng của nước Mỹ chúng tôi. Chúng tôi
luôn muốn vươn lên trời cao. Và, muốn vậy thì người Mỹ phải
đạp lên xác của đồng loại để mà vươn lên. Lịch sử đi lên của
nước Mỹ đã chứng minh như vậy”. Chúng tôi lạnh toát người và
cố gắng xem hết các gian trưng bày các cuộc chiến tranh để
tìm lời đáp cho câu hỏi: Người Mỹ nhìn nhận các cuộc chiến
tranh mà con em họ đã tham chiến như thế nào?
Trong Bảo tàng chiến tranh, người Mỹ đã dành một vị trí
xứng đáng cho việc trưng bày cuộc nội chiến Bắc - Nam của
nước Mỹ kéo dài tròn 4 năm, từ tháng 4-1861 đến tháng
4-1865. Người Mỹ lý giải:“Cuộc chiến tranh Bắc-Nam được châm
ngòi từ cuốn sách “Túp lều bác Tôm” xuất bản năm 1852 với
nội dung chống lại chế độ nô lệ. Kết cục thắng lợi của cuộc
chiến tranh này thuộc về miền Bắc nước Mỹ với việc thống
nhất liên bang, giải phóng nô lệ, đã đưa nước Mỹ phát triển
và trở thành nước Mỹ siêu cường như hiện nay”. Đọc những
dòng này, hẳn những ai am hiểu lịch sử nước Mỹ cũng phải bụm
miệng cười bởi cái nguyên nhân sâu xa của cuộc nội chiến Bắc
- Nam của nước Mỹ đâu phải bắt nguồn từ những trang sách của
tác phẩm “Túp lều bác Tôm”, mà cái căn bản cốt lõi nhất
chính là cuộc chạy đua giữa hai lãnh tụ đảng Cộng hoà
(Abraham Lincoln) và lãnh tụ đảng Dân chủ (Stephen
A.Douglass) vào Thượng nghị viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm
1858. Cả hai Đảng có thế lực lớn nhất nước Mỹ này đều giương
chiêu bài duy trì hay giải tán chế độ nô lệ làm con bài
chính trị để đạt được đỉnh cao quyền lực cho mình. Cuối cùng
là cuộc chiến đẫm máu nồi da nấu thịt này đã giết đi hàng
triệu dân lành của nước Mỹ. Cuộc nội chiến Bắc - Nam đã đi
qua hơn một thập kỷ, vậy mà bộ máy tuyên truyền của nước Mỹ
vẫn không dám nhìn thẳng vào sự thật hay nói đúng hơn là vẫn
không cho nhân dân Mỹ hiểu đúng bản chất của sự thật. Vậy
thì một sự thật dễ hiểu là ở cách trình bày, cách lý giải
các cuộc chiến mà người Mỹ đã không dưới 20 lần đưa quân tới
các nước khác, thì người Mỹ đều cố biện minh cho hành động
xâm lược của mình bằng việc đánh bóng mạ kền những cụm từ
rất kêu về quyền con người; nào vì hoạ xâm lược của các
cường quốc khác đe dọa những người bạn đồng minh của nước Mỹ;
nào viện trợ, giúp đỡ nhân đạo những nước nhược tiểu... vân
vân và vân vân. Cũng vì hiểu cái “lưỡi” và cái “vòi” của con
“bạch tuộc” mà chúng tôi không lấy làm ngạc nhiên khi tới
gian trưng bày cuộc chiến tranh ở Việt Nam , người Mỹ đã
trích lời của Tổng thống John Kennedy ngày 20-1-1961 biện
minh cho cuộc thập tự chinh quân sự can thiệp vào công việc
nội bộ của người Việt Nam như sau:“Chúng ta, mặc cho những
người không cùng chính kiến bảo chúng ta là tốt hay xấu.
Điều cốt yếu là chúng ta phải bằng mọi cách, kể cả khó khăn
gian khổ và sự chịu đựng thiệt thòi để giúp đỡ bạn bè của
chúng ta chống lại kẻ thù vì sự công bằng bác ái và sự tự do
của con người”. Còn lý giải về việc cuốn cờ bại trận cùng
với việc tháo chạy hàng chục nghìn quân nhân của Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ ở chiến trường Việt Nam tháng 4-1975 thì người
Mỹ biện minh bằng những dòng chữ thế này:“Cuộc chiến ở Việt
Nam mà người Mỹ tham gia từ năm 1959 tới năm 1975 là một
cuộc chiến tranh quá kéo dài ở một chiến trường không có
chiến tuyến, không có ranh giới giữa địch và ta mà chỉ có
rừng rậm, bùn lầy và những người dân bản xứ khi thì là địch,
khi thì là ta... Quá mệt mỏi vì không biết trận tuyến ở đâu,
kẻ thù ở đâu, nên người Mỹ quyết định rút quân về nước”. Đọc
những dòng này, chắc bạn đọc khỏi cần tác giả có lời bình
thêm bởi vì cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam thì ai cũng
biết nó được bắt đầu bằng việc nước Mỹ viện trợ kỹ thuật và
kinh tế cho thực dân Pháp từ năm 1954 và bằng việc Mỹ đón
rước, dạy dỗ một lũ tay sai người Việt như Ngô Đình Diệm từ
năm 1945 để đến năm 1954 Mỹ đưa về lập một Chính phủ thuộc
hạ với câu nói “nổi tiếng” xanh rờn có thể khắc “bia đá muôn
đời” nói lên cái thân phận hèn mọn của kẻ bán nước cầu
vinh:“Biên giới của nước Mỹ kéo dài tới vĩ tuyến 17”...
Cuối cùng thì dù cho người hùng Mỹ có liệt kê tất cả những
nỗi vất vả, sự “hy sinh” ti tỉ đồng đôla và hàng triệu tính
mạng con em Mỹ trong tất cả các cuộc chiến tranh, bằng những
hiện vật, những con số kinh hoàng vì một “lý tưởng tự do”
hay “nhân quyền, nhân bản” gì gì đi chăng nữa thì duy nhất
trong Bảo tàng chiến tranh này, người Mỹ đã phải trưng hai
bức ảnh nói lên sự thất bại cay đắng của nước Mỹ trong cuộc
chiến tranh ở Việt Nam. Đó là bức ảnh chụp chiếc xe tăng cắm
cờ Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam húc đổ cổng sắt Dinh
Độc Lập ngày 30-4-1975 và bức ảnh có 2 đứa trẻ Mỹ bám tay
một ông già người Mỹ hỏi về số phận cha chúng - một người
lính Mỹ, hiện nay ở đâu sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam(?)
...
VI
Trước khi đi Mỹ, tôi có dịp đi hai nước Châu Âu: Pháp và
Đức. Với hai nước này, vì nhiều lẽ, tôi không có điều kiện
tìm hiểu về người Pháp và người Đức. Thành thử đành nhoáng
nhoàng kiểu chuồn chuồn đạp nước tìm hiểu đôi nét về cộng
đồng người Việt ở nước ngoài; mà cụ thể là ở hai nước Châu
Âu phát triển này.
Ở Đức, tôi gặp một người Việt tên là Lê Văn Hoan. Anh khoảng
trên dưới 40 tuổi, quê Nghệ An, đã sinh sống ở Đức 15 năm
nay. Anh đã nhập cư ở Đức và đưa cả gia đình: bố mẹ, vợ con,
anh em sang lập nghiệp ở thành phố Dresden. Bằng cách sống
tần tảo, khôn ngoan của người Việt ở xứ người, anh đã tạo
dựng được vị trí của mình ở Đức bằng việc mở các nhà hàng ăn
uống Á Châu và bằng các mối bang giao rộng rãi với nhiều
quan chức của Đức. Hiện tại, anh là Chủ tịch Hội đồng quản
trị Công ty Asico Germany có các chi nhánh ở Hamburg,
Frankfurt (Đức), Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungari, tháng nào anh
cũng về Việt Nam để đầu tư và thiết lập các mối quan hệ làm
ăn trên các lĩnh vực xây dựng, thiết bị in ấn, điện tử...
Không biết được anh đã trở thành tư bản ở Đức hay chưa nhưng
đi với anh trên đường phố Dresden, dù là gặp người Việt hay
người Đức, kể cả một số quan chức lớn của thành phố sở tại,
thì mọi người đều chào anh bằng một thái độ trân trọng, vị
nể. Hỏi về việc làm ăn sinh sống của cộng đồng người Việt ở
Đức, anh chỉ những người Việt Nam đang giúp việc cho anh và
nói:“Anh em mình đấy. Vài năm trước khi chưa sáp nhập giữa
Đông và Tây thì người Việt ở Đức còn kiếm chác được. Nay khó
khăn nhiều. Những người Việt còn tồn tại được ở Đức, tháng
dành dụm được một, hai trăm USD là cả một vấn đề. Nếu làm
nghề bán rau quả, thuốc lá thì một ngày phải đứng trong giá
tuyết từ 10 tới 12 giờ. Còn nếu làm thuê ở các nhà máy, công
sở của Đức thì phải làm thêm giờ, làm cả ngày lễ, ngày tết.
Rất nhiều người Việt sang Đức cả chục năm nay, làm ăn không
được, không có tiền mang về nước, “sĩ” không dám về và đành...
lì ở Đức. Còn vấn đề “chính trị”, cộng đồng người Việt ở Đức
không phức tạp lắm. Đa phần mọi người chỉ lo làm ăn, nghĩ
cách kiếm tiền và đều có tư tưởng hướng nội. Để chứng minh
điều đó, anh Hoan lái xe đưa chúng tôi đi khắp các trung tâm
buôn bán và sinh sống của người Việt Nam tại thành phố
Dresden và cả Đông và Tây Berlin. Người Việt ở 2 thành phố
này nhiều, chủ yếu sống bằng nghề buôn bán, chạy chợ. Thấy
chúng tôi từ nước nhà sang, họ rất mừng và họ chỉ các sạp
bán sách báo và nói rằng họ nhìn về đất nước, nhớ về đất
nước qua sách báo từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đưa
sang.
Còn ở thủ đô Paris của Pháp, người Việt đầu tiên mà chúng
tôi gặp là người “sốpphơ” taxi tên là Hoàng Nguyễn. Anh
khoảng trên 50 tuổi và ở Pháp từ năm 18 tuổi. Hơn 30 năm
chưa một lần về nước vì điều kiện kinh tế eo hẹp. Nhưng anh
hiểu đất nước như chính người Việt có trình độ đang sống ở
nước Việt vậy. Gặp anh, chúng tôi rất vui vì cái gốc Việt ở
anh vẫn đậm nét và như là một điểm sáng ở giữa một thủ đô
phương Tây là Paris hoa lệ này. Anh kể những lần đụng độ nảy
lửa giữa anh và cánh “sốpphơ” taxi người Pháp chính hiệu về
cách nhìn văn hoá Pháp, văn hoá Việt Nam và cách đánh giá
cuộc viễn chinh của Pháp ở Việt Nam là khai hoá văn minh cho
Việt Nam hay là một âm mưu thôn tính, bóc lột người Việt
Nam? Anh bảo anh khinh một số kẻ khoác áo văn nghệ sĩ ở
trong nước chạy sang Pháp mặc dù “Tây” không mướn, không
thuê nhưng vẫn lụi hụi viết sách, viết báo để bôi nhọ nước
nhà. Rồi anh dẫn chúng tôi tới quận 13 - nơi có gian hàng
Việt Nam, sách báo Việt Nam. Tại đây, hàng hoá, thực phẩm,
rau quả của Việt Nam hầu như không thiếu một thứ gì, từ gạo
tám thơm, khoai lang, khoai sọ, tương, cà, rau dền, rau
muống cho tới điếu cày, điếu bát, thuốc lào Vĩnh Bảo và cả
thuốc rê Nam Bộ... Và, một điều thật lạ lẫm ngoài sức tưởng
tượng của chúng tôi là được thấy một “nhà” sách báo rất lớn
nằm giữa thủ đô Paris sầm uất và đài các như thế nhưng lại
chỉ có bày bán các loại ấn phẩm văn hoá, sách báo xuất bản ở
trong nước, tịnh không có một ấn phẩm nào của người Việt ở
hải ngoại. Tại đây, bạn có thể mua bất cứ cuốn tiểu thuyết,
tập truyện ngắn, băng ca nhạc nào đã xuất bản ở trong nước
nếu là các tác phẩm được bạn đọc thừa nhận là tốt có tiếng
vang. Còn báo, thôi thì đủ cả: Lao động, Tiền phong, Đại
đoàn kết, Tuổi trẻ, Thanh niên, Văn nghệ, Phụ nữ và các loại
báo Công an... Người chủ của nhà hàng sách báo trong nước là
một phụ nữ trẻ, phúc hậu. Chị tên là H. một Việt kiều sinh
sống ở Thái Lan qua Pháp được gần mười năm nay. Tôi hỏi vì
sao chị chỉ bán sách báo cách mạng? Chị bảo:“Bán loại sách
báo nào là quyền của tôi. Nhưng tôi là một phụ nữ Á Đông,
tôi muốn cuộc sống có văn hoá, vì thế mà tôi thích những ấn
phẩm sách báo nào lịch lãm và có văn hoá. Tôi ít có dịp về
nước nhưng tôi thấy sách báo trong nước sạch sẽ, có văn,
không kích động hằn thù, không kích động bạo lực và nhất là
không dâm tục”. Nói rồi chị cúi xuống lục ở đáy một thùng
rác lấy đưa cho tôi tờ Tạp chí Văn nghệ Tiền phong số 536
của nhóm bồi bút hải ngoại Hồ Anh - Thủy Tiên - Ngọc Đỉnh
xuất bản tại thành phố Arlington - USA, gửi “tặng” nhà sách
của chị. Chị chỉ cho tôi trang 1 của tạp chí in bài viết
nguyên nhân về bệnh bất lực của đàn ông và cách chữa trị kèm
theo trang sau là lời bình giới thiệu loạt băng video “Châu
Á tình dục” với những lời lẽ thô tục sai cả văn phạm tiếng
Việt đến mức ngô nghê, nực cười mà tác giả không đủ can đảm
viết ra đây sợ làm bẩn mắt bạn đọc. Vậy chỉ xin trích một
đoạn thơ được đóng khung, in chữ đậm của tạp chí Văn nghệ
Tiền phong như sau:
Hàng rong trong báo Tiền phong
Trăm nghìn người đọc mới mong bán nhiều
Quà gì sinh nhật hở cưng?
Tặng em Văn nghệ Tiền phong đủ rồi.
Bờm rằng bờm chẳng lấy hồng
Đưa tờ Văn nghệ Tiền phong.
Bờm cười...
Có lẽ không có lời bình nào hơn câu nói của chi H. về những
“tác phẩm” văn học, báo chí dạng này của một số cây bút hải
ngoại, rằng:“Họ là lớp người có trình độ văn hoá ngắn, nếu
tôi truyền bá sách báo của họ thì chẳng hoá ra tôi là người
không có văn hoá à?”. Tôi lại hỏi chị:“Chị tẩy chay sách báo
dạng này, chị không sợ một số người quá khích trả thù chị
sao?”. Chị cười:“Ở đâu thì cũng có người tốt người xấu. Nếu
bọn xấu định hãm hại tôi thì đã có những bà con người Việt
tốt bảo vệ tôi, tôi đâu có sợ”.
Thưa bạn đọc, điều chị người Việt bán sách báo ở quận 13,
thủ đô Paris nói về cộng đồng người Việt ở Pháp thì cũng là
điều tôi cảm nhận được trong những ngày tôi ở trên đất Mỹ
khi tiếp xúc với một số Việt kiều. Tại Madison - thông qua
sự môi giới của anh chàng Luck, một thanh niên Mỹ chỉ
“nghiền” chơi với người Việt Nam , tôi đã thâm nhập được vào
gia đình một Việt kiều là ông Lê Văn Hoạt ở phố
Independence. Vợ chồng ông Hoạt cùng ba người con đi sang Mỹ
theo diện HO từ năm 1990 và đều có công ăn việc làm. Gia
đình ông đã mua được một căn nhà 30.000 USD bằng tiền vay
trả góp trong vòng 30 năm. Ông và cậu con cả Lê Văn Huy , 22
tuổi đều có xe riêng, mặc dù là xe cũ mua lại giá 2-3 ngàn
USD và là loại xe không được chạy ra khỏi thành phố. Vợ ông
Hoạt nói với chúng tôi:“Gia đình chị ai cũng phải lao động
cật lực và các cháu đều ngoan, không đua đòi ăn chơi và đều
vừa học vừa làm thêm giờ, tích cóp tiền đưa cho mẹ trả dần
các khoản tiền vay. Với đà này chắc cũng phải mười năm nữa
chị mới trả xong tiền mua nhà, chứ trả góp kiểu Mỹ trong
vòng 30 năm thì tổng giá trị lên gấp 3 lần giá trị mua ban
đầu”. Chị kể cho chúng tôi nghe sự tằn tiện của người Việt ở
Mỹ là phải tính toán thật chi ly, từ việc phải nghĩ cách
trồng các loại rau, hạn chế đi lại, đến dùng điện thoại, thư
tín... và đặc biệt là việc về thăm cố hương nếu gia đình chị
mỗi năm có một người về nước một lần coi như cả nhà phải lao
động cật lực một năm mới hoàn “vốn”.
Ở Des Moines, thật tình cờ chúng tôi có cuộc “uống bia nói
chuyện” thẳng thắn, cởi mở với một nhóm thanh niên người
Việt - thế hệ sinh trước và sau năm 1975, hiện đang sinh
sống tại Mỹ. Ban đầu thì các bạn trẻ này rất dè dặt với
chúng tôi - những người mà dưới con mắt của họ là “Cộng sản
trăm phần trăm”. Sau cốc bia mừng cuộc hội ngộ trên đất Mỹ
giữa những người Việt với nhau, một anh bạn trẻ được giới
thiệu tên là Nguyễn Anh Tuấn chừng 25-26 tuổi làm kĩ thuật ở
Công ty Mic Roanswas, hiện đang cư trú tại số nhà 5715
Hickman Suite B - Des Moines. Tuấn thẩm vấn chúng tôi đủ các
câu hỏi tại sao, tại sao ở Việt Nam lại thế này hay thế khác
với giọng điệu quá khích. Chúng tôi hỏi cậu ta:“Thế anh bạn
trẻ đã về Việt Nam trong những năm gần đây chưa và cậu hiểu
về Nhà nước và con người Việt Nam hiện nay ở quê hương thế
nào?”. Cậu ta ú ớ và đưa ra một mớ thông tin, nhận định,
đánh giá lạ hoắc mà là một người làm báo có thâm niên bằng
tuổi cậu ta, tôi chưa được thấy, được nghe bao giờ . Tỉ dụ
như chuyện chính quyền Việt Nam muốn bắt ai là bắt; nhà văn
A, nhà văn B viết sách báo theo khuynh hướng dân chủ là vô
khám ngay. Lại còn chuyện cấm các “nhà văn cấp tiến” đi nước
ngoài... vân vân và vân vân. Vì là những điều chất vấn cụ
thể nên chúng tôi cũng đành phải giải thích, chứng minh cụ
thể từng vấn đề rằng đó là những điều bịa đặt có dụng ý xấu
bôi nhọ Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Rằng kể cả một số nhà
văn quá khích, không thiện chí với đường lối của Đảng và Nhà
nước Việt Nam nhưng khi có yêu cầu đi Mỹ hoặc các nước
phương Tây, Nhà nước Việt Nam vẫn cho đi như nhà văn A, nhà
văn B... và họ đâu có dám ở lại với Mỹ, với “Tây”, bởi họ
thừa thông minh nhận được bài học nhỡn tiền của Bùi Tín, Vũ
Thư Hiên... hiện đang sống vật vờ, lang thang ở Paris bằng
2.000 frăng (tương đương 400 USD) tiền trợ cấp nửa sống nửa
chết của Chính phủ Pháp. Tôi hỏi cậu ta có biết tin Bùi Tín
dịp cuối năm 1997 đã bị đứa cháu ruột đuổi ra khỏi nhà khi
vừa đi bệnh viện mổ ruột về chưa? Và việc Bùi Tín muốn sang
Mỹ mà không được Chính phủ Mỹ cho nhập cảnh chưa?... Những
người bạn Việt kiều trẻ tuổi này ú ớ và chuyển đề tài sang
cái sự “tự do”, sung sướng ngay trên đất Mỹ, thì chúng tôi
lại đưa tờ báo của Mỹ nói về tội phạm ở Mỹ như sau:“Một ngày
tại Mỹ có 16 trẻ em bị chết vì súng đạn trong các vụ tự tử,
bắn nhau, tranh chấp tài sản giữa người trong gia đình, và
cứ 2 giờ lại có một em bé Mỹ bị bắn chết. Từ năm 1992 tới
nay tại Washington, số người chết vì súng đạn, số người chết
trong các tai nạn giao thông ngày một gia tăng. Ở Mỹ hiện có
2 triệu tù nhân và là nước có nhiều nhà tù nhất thế
giới...”.
Thực ra, từ cuộc đàm đạo này, chúng tôi không trách người
bạn trẻ Nguyễn Anh Tuấn và một số Việt kiều khác trước những
lượng thông tin không đúng với tình hình thực tế của Việt
Nam. Có chăng là do điều kiện, do hoàn cảnh ở xứ người, các
bạn ít có thông tin đúng đắn nhiều chiều mà chỉ nhận được
những tin tức méo mó qua bộ máy tuyên truyền của người Mỹ và
qua một số tờ báo tiếng Việt của một số phần tử hận thù, cay
cú và bất mãn với cách mạng đang sống lưu vong ở Mỹ và các
nước phương Tây. Tuy vậy, đa số bà con Việt kiều và đặc biệt
là tầng lớp thanh niên người Việt ở Mỹ đều rất tốt. Họ sang
Mỹ chủ yếu là vì cuộc sống. Họ tần tảo, chịu thương chịu khó
lao động, học hỏi và cố hết sức để có được cuộc sống yên ổn
trên đất Mỹ và dành dụm được chút đỉnh để gửi về nước giúp
đỡ gia đình người thân hoặc gửi về thăm quê cha đất tổ.
Trong nhóm các bạn trẻ người Việt mà chúng tôi gặp ở Des
Moines có ba, bốn em tối nào cũng tới thăm và đưa xe đón
chúng tôi đi thực tế nước Mỹ. Trong nhóm đó phải kể đến Tống
Ánh. Em năm nay 22 tuổi, sinh tại thành phố Hồ Chí Minh,
sang Mỹ từ năm 14 tuổi, hiện ở phố Harorision - Des Moines.
Em nói và viết tiếng Anh thạo như tiếng Việt. Em đi làm cho
một công ty lắp ráp điện tử của Mỹ bằng ôtô mua ở bãi rác
giá 1.000 USD và có mức thu nhập tháng từ 1.000 đến 1.200
USD ấy là cả tiền làm thêm giờ hàng ngày và cả ngày lễ ngày
nghỉ. Em nói em đi làm được 3 năm nay và chỉ dành dụm được
khoảng hơn 3.000 USD để tháng tới về thành phố Hồ Chí Minh
thăm bạn bè và về Huế thăm họ hàng bên nội. Gần một tuần lễ
Ánh và 3 người bạn của em đưa chúng tôi đi, chỉ duy nhất có
một lần chúng tôi mời được các em tới ăn cơm Việt Nam và
uống vài chai bia ở nhà hàng Á Đông. Còn những lần sau, bao
giờ các em cũng bảo đã ăn cơm trước ở nhà rồi. Chúng tôi
biết là các em ngại vì mang tiếng là sống trên đất Mỹ giàu
có và sung sướng, vậy mà lẽ nào lại để người từ “nội địa”
sang đãi. Nhưng nếu các em “bao” chúng tôi thì quả là rất
khó khăn vì túi tiền ở Mỹ của các em eo hẹp quá. Tống Ánh
gượng cười phân bua với chúng tôi:“Khổ nhất cho người Việt ở
Mỹ là hằng tháng cứ phải tích cóp từng thùng hàng, từng trăm
USD gửi về cho người thân ở trong nước bởi người trong nước
luôn luôn quan niệm rằng Việt kiều ở Mỹ là giàu có lắm.
Nhưng anh sang anh thấy đấy, cuộc sống người Việt ở Mỹ buộc
phải tính toán, tằn tiện từng xu”...
Một tháng sau, tôi gặp lại Tống Ánh tại thành phố Hồ Chí
Minh. Có được chuyến về cố hương lần đầu tiên này, em đã
phải lao động cật lực trong ba năm trời trên đất Mỹ. Tôi có
mời Tống Ánh đi ăn đặc sản “rùa - rắn” ở đường Hai Bà Trưng,
em vui lắm. Ăn xong em cứ xuýt xoa khen:“Từ ngày sang đất Mỹ
em chưa được ăn bữa nào ngon như thế này”... Và, trước khi
chia tay để Tống Ánh trở lại nước Mỹ, em cứ nắm chặt tay tôi,
nói:“Trước sau gì em cũng quay trở về sinh sống ở Việt Nam
thôi. Không ở đâu bằng đất nước mình, quê hương mình anh
ạ!”...
Trên một chặng đường nước Mỹ, thấy gì viết nấy, tác giả xin
được chép ra đây để kính tặng bạn đọc.
Los Angeles - Hà Nội, tháng 5-1998 |
|