| |
I
Ấn tượng về nước Nga, về con người và bản tính Nga đã từng
ăn sâu trong tiềm thức từ ngày tôi còn học phổ thông với
những tác phẩm của Pútxkin, Êxênhin, Lép Tônxtôi,
Đốtxtôiépxki, Goócky, Tsêkhốp... Sau đó là những năm tháng
chiến tranh, lớp trẻ chúng tôi chưa một lần được biết đến nụ
hôn ngọt ngào của người bạn gái, đã rùng rùng lên đường ra
trận, trên tay cầm khẩu súng AK của Nga và hát những ca khúc
hừng hực khí thế cách mạng của Việt Nam và các bài hát về
chiến tranh của nước Nga. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ các
giai điệu bi hùng của các bài hát Cachiusa, Cuộc chiến tranh
thiêng liêng, Chiều Mátxcơva... Vâng, cái giai điệu bi mà
hùng ấy sau bao nhiêu năm bể khổ và đắng cay chịu nhiều mất
mát của hai nước Nga - Việt bây giờ lại được cất lên giữa
Cung Văn hóa Hữu nghị Việt - Xô ở giữa lòng thủ đô Hà Nội
vào cái thời khắc lịch sử ngày 2-3 năm đầu thế kỷ XXI của
chính vị Tổng thống trẻ, tài hoa của nước Nga V.Putin; của
nhiều vị đứng đầu Nhà nước Việt Nam đã từng một thời ăn bánh
mì đen, uống nước sông Vonga để học tập tại Liên Xô (cũ) và
Liên bang Nga ngày nay. Có khác chăng, bên cạnh giai điệu bi
hùng của Chiều Mátxcơva còn âm vang, mênh mông hoang dại và
da diết tới sâu thẳm lời và giai điệu của bài hát Nga “Hãy
để mặt trời luôn chiếu sáng”... Âm vang, sự lắng sâu của bài
hát cộng hưởng với gương mặt và tấm lòng của bạn, của ta đã
hâm nóng và sưởi ấm lại mối tình Nga - Việt đã có từ nửa thế
kỷ nay. Nước Nga xa xôi với Việt Nam nửa vòng Trái Đất nhưng
nước Nga lại quá đỗi gần gũi với Việt Nam.
Thưa bạn đọc, “hành trang” và “ấn tượng” về nước Nga trong
tôi như thế và tôi hăm hở đến nao lòng lên đường sang nước
Nga theo lời mời của Trung tâm Kinh tế, Thương mại quốc tế
(KT) mà Tổng giám đốc là một cựu chiến binh trẻ của Việt Nam
- ông Nguyễn Văn Hường, 42 tuổi. Thật may mắn cho tôi, khi
tới nước Nga thì cái sự kiện: “Nga - V.Putin - Việt Nam”
vẫn đang “nóng” trên tất cả các hệ thống thông tin đại chúng
đa chiều của nước Nga, của những người Nga cũ và của những
người lính Xôviết một thời oai hùng và một thời gắn bó với
cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Tại Phân
xã Thông tấn xã Việt Nam ở Mátxcơva, ông Phạm Gia Sơn, Phân
xã trưởng, lần giở từng chồng các loại báo của nước Nga đăng
ảnh và các bài tường thuật, bình luận về sự kiện Tổng thống
Nga V.Putin sang thăm Việt Nam. Ông chỉ cho tôi tờ Nước Nga
và tờ Tin tức - hai tờ báo vào loại lớn nhất của Nga đã bình
về hai lần rớm lệ tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt - Xô của vị
Tổng thống Nga vốn dĩ chuẩn mực và nghiêm nghị tới mức lạnh
lùng và thật hiếm có được một nụ cười. Nói về nụ cười có
được của vị Tổng thống Nga, tôi chợt nhớ tới buổi làm việc
của Cục trưởng Cục Cảnh vệ Liên bang Nga E.A.Murov với Tư
lệnh Cảnh vệ Công an Việt Nam, Đại tá Lê Văn Kính. Dường
như cả buổi làm việc, hai ông không bàn nhiều tới các
phương án bảo vệ đoàn của Tổng thống ở trên đất Việt Nam.
Cái mà chúng tôi thấy ở họ nhiều là những vòng tay ôm hôn
nồng ấm và những câu chuyện “đồng chí Việt Nam khi sang Liên
Xô học và đồng chí Nga khi còn công tác và chiến đấu ở Việt
Nam”. Kết thúc buổi làm việc, “đồng chí” Cục trưởng Cục Cảnh
vệ Liên bang Nga đã “cá cược” kỳ lạ với “đồng chí” Tư lệnh
Cảnh vệ Việt Nam: “Tôi rất mong Tổng thống V.Putin của chúng
tôi có được nụ cười trên đất Việt Nam. Bởi vì từ ngày nhậm
chức Tổng thống, tôi chưa bao giờ thấy ở ông có được một nụ
cười. Điều này nếu các “đồng chí” làm được tôi sẽ xin đãi Tư
lệnh một bữa tiệc có bánh mì đen và trứng cá hồi”. Vâng,
điều ước muốn của người lính cận vệ trung thành này đã toại
nguyện bởi 3 ngày trên đất nước Việt Nam, Tổng thống của ông
đã rất vui, đã rất nhiều lần cười và hai lần cảm động đến
rớm lệ mà bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào của
“tây” và của “ta” đều có lời bình tuyệt vời và đều cho rằng,
đó là cuộc đón tiếp lịch sử nhất về sự thân tình, gần gũi mà
nhân dân Việt Nam dành cho Tổng thống Nga V.Putin...
Cái tình Nga - Việt ấy tôi lại được chứng kiến ngay ngày đầu
tiên tới nước Nga xa xôi. Tại cuộc gặp gỡ định kỳ thường
xuyên giữa Câu lạc bộ Cựu chiến binh Việt Nam làm việc tại
Trung tâm Thương mại quốc tế (KT) với các tướng lĩnh, sĩ
quan Liên Xô (cũ) từng công tác, chiến đấu tại Việt Nam
trong những năm đánh Mỹ và đang sinh hoạt tại “Tổ chức xã
hội liên khu vực các cựu chiến binh tham chiến tại Việt
Nam”. Ông Nguyễn Văn Hường, Chủ tịch câu lạc bộ bố trí tôi
và Đại tá Đinh Nho Hồng, Tùy viên quân sự của Việt Nam tại
Liên bang Nga ngồi cùng với Thượng tướng - giáo sư - tiến sĩ
A.I Khiupenen - Đại tá, tiến sĩ K.Sozranov, kỹ sư
N.N.Koleslik, nguyên sĩ quan chỉ huy xe điều khiển tên lửa
hiện là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tham chiến tại Việt Nam
của Nga và cô Vera Nguyễn, con gái của mối tình Nga - Việt
giữa bà Dôia Grigorevna và Thiếu tá Quân đội nhân dân Việt
Nam Nguyễn Văn Định đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị
năm 1972. Thượng tướng A.I Khiupenen, nguyên Trưởng đoàn
Chuyên gia phòng không của Liên Xô tại Việt Nam từ năm 1972
tới ngày giải phóng miền Nam (1975) với quân hàm Thiếu
tướng. Ông đã nghỉ hưu từ năm 1991 với mức lương 3.500 rúp (tương
đương 1 triệu 8 trăm đồng Việt Nam). Bên ấm trà, ông lo lắng
nhiều về vận mệnh của Tổ quốc và ông nói nhiều tới thực
trạng xã hội Nga do “liệu pháp sốc” từ thời Tổng thống
Yeltsin tạo ra. Ông nói: “Boris Yeltsin đã đứng trong Đảng
Cộng sản Liên Xô gần 30 năm và từng giữ cương vị Bí thư
Thành ủy Mátxcơva, Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng, Ủy
viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô. Ấy vậy mà
ông ta đã phủ nhận 30 năm hoạt động của mình trong Đảng bằng
sắc lệnh tuyên bố cấm Đảng Cộng sản hoạt động. Với cương vị
Tổng thống, để lấy lòng phương Tây, ông nói: “Tôi thiết nghĩ,
các sắc lệnh cấm Đảng Cộng sản sẽ không bị coi là không hợp
hiến... Chúng ta sẽ có thể kiên quyết và đứng trên cơ sở
hợp pháp để chống lại nguy cơ đỏ nâu”. Nói về Gorbachev,
Thượng tướng A.I.Khiupenen đằng hắng với tâm trạng bực bội:
“Ông ta khi mới bước vào cương vị Tổng bí thư Ban chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, ông ta nói: “Nếu không có
một Đảng được vũ trang bằng lý luận Mácxít - Lêninnít thì
không có chủ nghĩa xã hội và không có cường quốc vĩ đại của
chúng ta ngày hôm nay”. Vậy mà khi củng cố được địa vị rồi,
M. Gorbachev đã quay ngoắt 180o,
ông ta trút bỏ cương vị Tổng bí thư và với cuộc “Cải tổ 500
ngày” đã phá hoại Đảng Cộng sản Liên Xô, làm lung lay và tan
rã Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết hùng cường”.
Nói với chúng tôi rồi ông ngẫm nghĩ và đúc kết: “Xã hội nào
thì có những con người ấy. Họ là sản phẩm của lối lãnh đạo
xu thời, cơ hội chính trị và hám danh. Họ có học nhưng chỉ
là những con mọt sách, được cái là họ rất giỏi mánh lới và
bon chen. Họ biết tính những con tính có lợi cho con đường
thăng tiến của mình bất chấp lợi ích của Tổ quốc, Đảng và
nhân dân. Họ luôn tỏ rõ là lớp người cấp tiến, phù hợp với
thời đại và vì thế họ luôn phủ nhận quá khứ và theo tôi thì
họ không hơn loại thú chỉ chuyên ăn xác thối. Với tôi, từ
ngày đầu tiên là người lính Xôviết tôi chỉ có một lời thề
tất cả vì Tổ quốc, vì nhân dân Xôviết. Cho tới bây giờ tôi
vẫn như thế. Còn quê hương tôi - Lêningrát - thì bao giờ
cũng vẫn là Lêningrát với 900 ngày đêm sống chết với phát
xít Đức trong Chiến tranh thế giới thứ II, chứ không phải là
Pêtécbua như người ta vẫn gọi hôm nay... Nghe người cựu
chiến binh Liên Xô nói say sưa chứa đựng quá nhiều “màu sắc
chính trị”, tôi và Đại tá Đinh Nho Hồng nhìn nhau. Tôi hỏi
ông về công cuộc đổi mới của Việt Nam. Thượng tá A.I.
Khiupenen hào hứng nói ngay rằng, ông rất cảm phục con đường
mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và ông vui trước sự
đổi mới của Việt Nam. Theo nhận định của ông thì sự đổi mới
của Việt Nam trong 10 năm (1990-2000) đã đẩy nhanh sự phát
triển của đất nước tới 20 lần. Đối với cuộc đời binh nghiệp
của ông thì Việt Nam là trường học và các bạn Việt Nam luôn
là những người bạn tốt, là những người anh em của người Nga.
Và qua cuộc chiến tranh ở Việt Nam ông hiểu ra rằng, bọn xâm
lược có thể xâm chiếm được lãnh thổ nhưng không thể xâm
chiếm được con người. Còn nói về đất nước Nga, ông chép
miệng, “hoài cổ”: “Đổi mới, cải tổ của Gorbachev và Yeltsin
đã đẩy lùi sự tiến triển của đất nước chúng tôi tới 20 năm...
nhưng là người lạc quan, tôi tin vào sự phục hưng đích thực
sẽ đang ở phía trước bởi cái “chất Nga” vốn dĩ quật cường,
trong mọi điều kiện và trong mọi hoàn cảnh khó khăn nào thì
chúng tôi cũng sẽ tìm được lối thoát ra khỏi cuộc khủng
hoảng vô cùng nặng nề mà nước Nga đã phải gánh chịu từ khi
Liên Xô sụp đổ và mất đi cái cương vị cường quốc của mình...”.
Cuộc gặp giữa chúng tôi và một số tướng lĩnh, sĩ quan của
Liên Xô (cũ) tại Trung tâm Thương mại quốc tế (KT) đã được
vị Chủ tịch Tổ chức xã hội liên khu vực các cựu chiến binh
tham chiến tại Việt Nam - kỹ sư N.N Koleslik chuyển sang một
đề tài khác. Đó là việc tổ chức của ông đã lại “tham chiến”
rất quyết liệt vì Việt Nam. Có chăng sự khác nhau là lần
này các cựu chiến binh không “tham chiến” tại chiến trường
Việt Nam mà tham chiến ngay tại “chiến trường” Nga. Số là cứ
đến dịp kỷ niệm chiến thắng 30-4 của Việt Nam thì hầu hết
các phương tiện thông tin đại chúng đa chiều, đa quan điểm ở
Nga đều ca ngợi cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam, ca
ngợi sự đóng góp của nhân dân Liên Xô và bè bạn khắp năm
châu cho Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc thì có
một hai kênh truyền hình và một hai tờ báo của phái đối lập
với Chính phủ Nga đã “lạc giọng”, có những bài báo bóp méo
sự thật ở Việt Nam.
Vậy là các cựu chiến binh Nga từng chiến đấu ở Việt Nam vào
cuộc. Các tướng lĩnh, sĩ quan kéo tới tòa soạn chất vấn Ban
biên tập và đưa kiến nghị phản đối. Tôi xin chép một vài lá
đơn của các cựu chiến binh Nga đề ngày 22-3 phản bác một bài
báo nói xấu Việt Nam của tờ Kommersant - Vlast: “Ngày
30-4-1975 là ngày giải phóng miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến
tranh đã kết thúc bằng thất bại nhục nhã của Mỹ và đem lại
sự thống nhất cho Việt Nam. Chúng tôi - những cựu chuyên gia
quân sự Xôviết đã trực tiếp sang chiến trường Việt Nam giúp
đỡ các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam nắm bắt kỹ thuật
vũ khí hiện đại để giáng trả những đòn không kích của Mỹ.
Chúng tôi biết cái giá mà nhân dân Việt Nam phải hy sinh
để giành chiến thắng mà trong đó có phần đóng góp không nhỏ
của chúng ta, của hàng triệu người dân Xôviết. Đó là sự giúp
đỡ quốc tế thật sự mà chúng ta đã dành cho nhân dân Việt Nam
và trong đó không ai có quyền trách móc chúng ta. Hy vọng
rằng quý tòa soạn của tạp chí Kommerstant - Vlast nên chú
ý đến sự thật và những tháng ngày đáng nhớ đó và mừng những
ngày chiến thắng của nhân dân Việt Nam nên cho đăng những
tư liệu khách quan về Việt Nam và về sự giúp đỡ của nhân dân
Xôviết. Tổ chức xã hội liên khu vực các cựu chiến binh tham
chiến tại Việt Nam sẵn sàng hợp tác về vấn đề này...”.
II
Trước ngày sang Nga, tôi nghe bản tin của Đài BBC (Anh)
phát đêm 26-2 như sau: Chính phủ Nga vừa hạ lệnh điều tra
vụ cảnh sát Nam Mátxcơva bao vây khu chợ Tôgi của người Việt
Nam hồi trung tuần tháng 1-2001. Cảnh sát Nga nói, do nhiều
người Việt không có đủ giấy phép buôn bán nên cảnh sát tạm
đóng cửa khu buôn bán Tôgi, tạm giữ hơn nửa triệu USD hàng
hóa. Đại sứ quán Việt Nam tại Nga đã đặt vấn đề với Bộ Ngoại
giao Nga nhưng không gửi công hàm hay văn bản chính thức.
Nhưng Hội Hữu nghị Nga-Việt và Hội Cựu chiến binh đã từng
tham chiến tại Việt Nam ở Nga đã gửi thư phản kháng lên
Chính phủ và Đuma quốc gia Nga yêu cầu phải làm rõ vụ Tôgi.
Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và Bộ Báo chí Nga được giao điều
tra vụ này cùng với việc có một số tờ báo, một vài hãng
truyền hình đã đăng hoặc phát bài, tin nói xấu về cộng đồng
người Việt đang sinh sống tại Nga...
Khi sang Nga, tìm hiểu kỹ vụ việc này, tôi được biết “sự
kiện Tôgi” chỉ là “một giọt nước làm tràn ly” trong mối quan
hệ “làm ăn” của một số quan chức cơ quan chức năng; đặc biệt
là của lực lượng cảnh sát đủ các loại của Nga “làm luật”
người Việt Nam đang sống, tồn tại và “phấn đấu” làm giàu
trên đất Nga. Cái “gót chân Asin” của nhiều người Việt ta
khi quyết chí làm giàu là bằng mọi cách né tránh pháp luật
và luồn lách, tìm kẽ hở của cơ chế chính quyền sở tại.
Nhưng đã là chính quyền thì chính quyền nào cũng có chuyên
chính và quyền lực. Đó chính là cái “vòng kim cô” của “sư
phụ” Đường Tăng lúc nào muốn cũng có thể siết đầu Tôn Ngộ
Không cho dù “thần dân” Ngộ Không có 72 phép thần thông biến
hóa. Trở lại việc người Việt ta ở Nga. Có thể nói người Việt
Nam sang Nga, trừ số đối tượng đi học, đi nghiên cứu và công
tác theo chế độ Nhà nước, còn lại đa phần sang với mục đích
chính là “bách kế mưu sinh” cố kiếm cho được nhiều tiền. Và,
cách kiếm tiền chủ yếu của người Việt ta ở Nga là “đánh hàng”
may mặc, giày dép, tạp phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm từ Việt
Nam, Trung Quốc, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Đông Nam Á,
và mở các kiốt bán hàng thông qua các trung tâm thương mại
của các ông chủ người Việt mà người Việt ở Nga thường gọi là
“soái” hay “đại soái”, “chủ soái” tùy thuộc vào cái túi
tiền và quy mô tầm cỡ “chợ” nhỏ hay to của các ông chủ này.
Hiện tại, nội trong phạm vi thành phố Mátxcơva đã có tới 5
trung tâm thương mại buôn bán lớn của 5 “chủ soái” người
Việt ta là: Trung tâm Thương mại Tôgi, Bến Thành, Sông Hồng,
Nion và Trung tâm Kinh tế - Thương mại quốc tế (KT). Về cuộc
đời, sự nghiệp thành bại của các “chủ soái” này tôi sẽ nói
ở phần sau. Ở đây tôi chỉ đề cập tới lượng người Việt sinh
sống và kiếm tiền quanh các khu chợ trung tâm thương mại
này có tới vài ngàn hộ. Có hội dắt díu cả vợ, chồng, con cái,
anh em nội ngoại... Vậy là các kiểu, các loại người Việt ta
ở Nga “phạm luật” và bị “làm luật” bắt đầu từ đây. Người
Việt sang Nga thì cố lo được cái hộ chiếu để sang được nước
Nga. Vậy là xong. Còn để có visa và hộ khẩu ở Nga thì chỉ
trừ có cán bộ của Nhà nước đi công vụ và còn lại là các “soái”,
các ông chủ có nhiều tiền mới lo được. Vậy là hở, là “phạm
luật” của Nhà nước Liên bang Nga. Còn thuê “ốp” bán hàng, để
hoàn thiện một cách toàn diện tính hợp pháp cho từng “ốp”
thì người Nga quy định phải có đủ các thứ: Thuế môn bài,
thuế lợi tức, sổ y bạ, giấy kiểm tra chất lượng hàng hóa,
giấy chứng nhận tiêm phòng dịch, dụng cụ phòng cháy và các
giấy tờ tùy thân như hộ chiếu, hộ khẩu... Trời ơi, thử hỏi
một người bán hàng xuất phát điểm từ một người nông dân Việt
Nam ra đi không một đồng rúp dính túi, không biết một chữ I
và chữ A của người Nga thì bắt họ với đủ những thứ luật và
lệ kia có khác nào bắt voi ăn bã mía.
Đấy là cái kẽ hở của phía người Việt ta. Còn phía Nga? Nhiều
nhà nghiên cứu về nước Nga đã khẳng định rằng, từ khi Liên
bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết tan rã, nước Nga đã
mất đi vai trò cường quốc của mình trên bình diện quốc tế và
“chuyển hóa” toàn diện. Mâu thuẫn xã hội có những thời kỳ đã
đẩy đến đỉnh điểm. Nước Nga rơi vào thảm cảnh của cuộc
khủng hoảng trầm trọng và tan rã trước sự xâm nhập và chèn
ép của chủ nghĩa tư bản. Những người lãnh đạo Nhà nước thì
phân hóa, các đảng phái thì tranh giành quyền lực chạy đua
cố giữ được nhiều ghế trong Đuma (Hạ nghị viện) và các vị
trí chủ chốt của Nhà nước từ trung ương cho tới các địa
phương. Người Nga của thập niên 80 và 90 đã hình thành hai
lớp: người Nga cũ và người Nga mới. Lớp người Nga cũ là lớp
người như các tướng lĩnh sĩ quan Xôviết và những người Cộng
sản chân chính. Hiện tại họ sống bằng vinh quang của một
thời đã qua và bằng các hồi niệm về quá khứ.
Tại Mátxcơva tôi đã gặp rất nhiều những lớp người Nga cũ
này mà điển hình là nhà văn, nhà biên kịch, nhà báo quốc tế
Misa Ilinsky. Ông năm nay 62 tuổi, đã về hưu nhưng không
nhận lương hưu của Chính phủ Nga hiện nay. Ông sống bằng
ngòi bút tự do của ông và trong túi ngực lúc nào cũng mang
Thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Nga. Ông nói được 4 thứ tiếng
Anh, Pháp, Ý và Việt Nam. Thời trai trẻ, ông là phóng viên
chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1966 đến năm 1975. Ông có rất
nhiều tác phẩm văn học, báo chí, báo ảnh và kịch bản phim
viết về cuộc chiến tranh ở Đông Dương và Việt Nam nhưng vì
Liên Xô tan rã nên chưa có một hãng phim nào nhận làm phim
nhiều tập của ông về một người Nga đã trở thành anh hùng
trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam - đồng chí Platon Thành.
Khi gặp chúng tôi, ông rất vui và rất hay lim dim mắt như
hồi tưởng lại một thời đã qua ở Việt Nam rồi ông lẩm nhẩm
nói tiếng Việt lơ lớ bắt chước giọng phát thanh viên Việt
Nam trong những năm chiến tranh: “Đồng bào chú ý! Đồng bào
chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội 50 cây số về phía Nam. Đồng
bào hãy mau xuống hầm trú ẩn...”. Và trong cả một buổi tiệc
tại nhà của nhà thơ Châu Hồng Thủy, tôi không thấy ông ăn
mà chỉ nhâm ly rượu vốtca và lúc lúc lại hỏi về những người
bạn cũ của ông ở Việt Nam là các nhà thơ, nhà văn, nhà báo:
Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Lưu Quý Kỳ,
Phan Quang... Rồi ông nói về những người bạn Nga của ông,
trong đó có cựu Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachev.
Ông bảo, khi Gorbachev làm Tổng bí thư thì nhân dân Liên Xô
gọi “thằng bạn tôi” là “Tổng bí thư nước khoáng” bởi vì ông
ta là Tư lệnh của chiến dịch chống uống rượu. Thực ra,
“sáng kiến” này không có gì mới, bởi vì trước đó Mỹ cũng đã
ban hành “Luật cấm rượu”. Nhưng cũng từ “sáng kiến vĩ đại”
này đã đẩy nền kinh tế Liên Xô tới khủng hoảng, rối loạn và
phạm pháp hay còn gọi là nền kinh tế “ngầm” với những ông
trùm kinh doanh ngầm. Đó là các ông chủ chuyên sản xuất và
buôn lậu rượu đi liền với kinh doanh ma túy, và mafia bắt
đầu xuất hiện... Ông kết luận: “Gorbachev là bạn tôi nhưng
nó là một thằng ngốc. Một thằng ngốc vĩ đại”. Còn khi ngồi
trên ôtô vào khách sạn nơi tôi ở, thấy người bảo vệ nhấc
barie đòi tiền, ông tỏ thái độ bực bội và làu bàu: “Nó theo
tư bản rồi, cái gì cũng tiền, tiền...”.
Đại loại lớp người Nga cũ là như thế. Họ luôn là những
người đồng chí, người bạn, người anh em máu thịt của Việt
Nam cho dù Đảng Cộng sản Liên Xô có còn hay không còn. Vì
thế, trở lại vụ việc mà khi cảnh sát Nga ra lệnh đóng cửa
khu buôn bán của Trung tâm Thương mại Tôgi và tịch thu hàng
hóa của người Việt Nam, thì ngay lập tức những người Nga cũ
nhảy vào cuộc. Bà con người Việt buôn bán ở chợ Tôgi kể lại
rằng, khi những người lính cảnh sát Omon (lực lượng cảnh sát
đặc nhiệm mặc đồ rằn ri, bịt mặt đen) và lực lượng chống tội
phạm kinh tế (UBEV) của Nga với súng ống đầy mình, ầm ầm đổ
quân bao vây bịt chặt các cửa ra vào của khu chợ Tôgi, thì
những người “đồng chí” của Việt Nam là các cựu chiến binh và
những người Nga có cảm tình với Việt Nam xông vào ngăn cản
và giữ từng thùng hàng cho bà con buôn bán người Việt ta. Và
ngay sau đó, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt, Chủ tịch Tổ
chức Xã hội liên khu vực cựu chiến binh tham chiến tại Việt
Nam của Nga đã làm đơn kiến nghị lên Chủ tịch Viện Đuma
quốc gia, Thủ tướng Chính phủ Liên bang Nga, Kiểm sát trưởng
Liên bang Nga, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nga và Thị trưởng thành
phố Mátxcơva. Đơn kiến nghị của các tổ chức này viết:
“Chúng tôi quyết định trình bày một vấn đề cấp bách tới ngài.
Đã có một thời gian dài, một số các phương tiện thông tin
đại chúng của Nga tiếp tay cho các chương trình tuyên truyền
công khai về sự hằn thù dân tộc, chủ nghĩa bá quyền chủng
tộc, chủ nghĩa hư vô, các chiến dịch chống lại người nước
ngoài hiện sinh sống tại Nga. Góp phần đưa các thông tin
lên báo chí còn có công của các cơ quan bảo vệ luật pháp -
những người thường xuyên kiểm tra các trung tâm thương mại
của người Việt Nam được tiến hành với cái cớ hoàn toàn hợp
lý là đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp
luật Nga. Song, điều đáng tiếc là các hoạt động này thường
kéo theo những vi phạm nhân quyền một cách thô bạo, hạ thấp
nhân phẩm, tịch thu một cách bất hợp pháp các tài sản. Tất
cả những vi phạm này, trong đó có những vi phạm đối với
người Việt Nam hiện sống tại Nga, đã diễn ra nhiều lần
trong những năm qua và hiện vẫn tiếp diễn. Ví dụ như việc
kiểm tra Trung tâm thương mại Tôgi mới đây. Với cớ vi phạm
chế độ hộ chiếu và không có giấy phép kinh doanh của một số
người, tất cả mặt bằng kinh doanh đã bị niêm phong, và ban
đêm thì tất cả hàng hóa tịch thu đã được chở đi đâu đó mà
không ai biết. Đồng thời, những người Việt Nam còn bị buộc
tội cư trú bất hợp pháp trên đất nước chúng ta, mặc dù như
mọi người đã biết rõ, người nước ngoài đã đến Nga đều phải
có visa. Do vậy, việc buộc họ cư trú bất hợp pháp tại Nga là
hoàn toàn sai trái... Chúng ta cần phải lưu ý rằng, hiện tại
trên đất nước CHXHCN Việt Nam có hàng ngàn công dân Nga. Họ
sống và làm việc ở Việt Nam không gặp bất cứ trở ngại nào.
Do vậy, chúng tôi đề nghị các ngài - những người đại diện
cho chính quyền Nhà nước và luật pháp Nga - hãy thông qua
những biện pháp cần thiết để xác lập các điều kiện văn minh
cho người nước ngoài sinh sống trên đất nước chúng ta...”.
III
Cuối cùng thì sự kiện Trung tâm Thương mại Tôgi của người
Việt Nam bị phong tỏa và bị bắt giữ hàng hóa cũng được giải
quyết “êm thấm” bằng luật của Nhà nước Nga là phạt tiền với
đủ các lý do: vệ sinh dịch tễ, phòng cháy chữa cháy, hộ khẩu...
không đảm bảo yêu cầu tiêu chuẩn. Và, hàng hóa chỉ được trả
lại gọi là, còn đa phần bị mất. Nhưng cái đáng nói là số
tiền mà những “thần dân” Việt Nam có các kiốt trong khu
chợ Tôgi phải nộp bao nhiêu cho “chủ soái” Tôgi để rồi “chủ
soái” Tôgi nộp phạt vào kho bạc Nhà nước Nga bao nhiêu và
phải “làm luật” với một số quan chức của các ngành Thuế, Hải
quan, Y tế và Cảnh sát đủ loại, đủ kiểu của Nga là bao nhiêu
thì chỉ có... Chúa mới biết. Nói như vậy chắc bạn đọc sẽ suy
đoán rằng: Thì ra ở nước Nga cũng lắm chuyện và còn lắm tiêu
cực hơn ta.
Thưa bạn đọc, thực trạng nước Nga sau một thập kỷ kể từ khi
Liên bang Xôviết tan rã đã được đương kim Tổng thống Liên
bang Nga V.Putin khẳng định rằng: “Lần đầu tiên trong vòng
200-300 năm nay, nước Nga có nguy cơ thực sự rơi xuống hạng
hai, thậm chí hạng ba của các nước trên thế giới... Nước Nga
đã mất đi vị thế là một cường quốc lớn thời Xôviết đã từng
có ở Châu Âu và trên thế giới”. Thực tế có một giai đoạn dài
hậu Xôviết (từ 1992-1999), nền kinh tế nước Nga đáng được
ghi vào kỷ lục Ghinét về tình trạng lạm phát và sự hỗn loạn
trên tất cả các mặt đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội
của nước Nga. Đồng lương hưu của các tướng lĩnh Xôviết và
của các viên chức thường thường bậc trung ở Nga chỉ trên
dưới 10 USD. Và, cái “được” nhiều nhất và thường xuyên nhất
đối với các công chức Nga trong hai nhiệm kỳ 8 năm của vị
Tổng thống có cái đầu man mát khi nóng khi lạnh và điên
khùng thất thường của Boris Yeltsin là không bao giờ nhận
được đồng lương ít ỏi ấy đúng kỳ. “Vậy thì công nhân viên
chức, những người lính và các lực lượng cảnh sát Nga sống
bằng gì”(?). Tôi hỏi câu hỏi này với một số người Nga mà tôi
gặp, họ đều nói rằng: Bản tính người Nga có nhiều nét tương
đồng với người Việt, đó là thừa lòng tốt và sự cam chịu. Một
tờ báo ở Nga đã đưa số liệu về đời sống của người dân Nga:
“Nếu ở giữa thập niên cuối thế kỷ XX, mới chỉ có 20% số
người Nga sống dưới mức nghèo khổ, thì tới tháng 7-1999, tỉ
lệ này là 57%. Trong đội ngũ này có những gia đình không đủ
tiền chi cho những bữa ăn đạm bạc nhất trong ngày. Sự
chênh lệch thu nhập giữa 10% số người giàu nhất với 10% số
người nghèo nhất là 14 lần”. Còn với một lực lượng hùng
hậu hàng vài chục triệu công nhân viên chức và với 18 triệu
người hưởng lương hưu, trong đó có gần 900 cựu chiến binh
từ thời Xôviết và thời Liên bang Nga hiện nay, đa phần
trong số họ đều sống bằng chính đồng lương tùng tiệm và ít
ỏi của mình. Họ đã hạn chế tới mức tối đa nhu cầu sinh hoạt
cần thiết như phải tắt hệ thống sưởi ấm mùa đông và “đắp
tuyết” lên xe từ năm này qua năm khác. Hiện tại, thời Tổng
thống V.Putin, người mà nhiều người dân Nga nói rằng ông là
nhân cách của người Xôviết hay là vị Tổng thống của những
người nghèo - đã tăng mức lương của công nhân viên chức lên
20% và đưa mức lương tối thiểu lên 600 rúp (tương đương
350.000 đồng tiền Việt Nam) và mức tối đa cho những người
có đủ thâm niên làm việc là 1.500 rúp (tương đương 1 triệu
đồng tiền Việt Nam). Trong những ngày ở Nga, tôi đã được
tận mắt chứng kiến cuộc sống của lớp cán bộ, công chức Nga.
Họ cũng lại có những nét rất tương đồng với đời sống của đa
phần cán bộ, công nhân viên chức Việt Nam là có một căn hộ
tập thể 1 - 2 phòng và một tivi, một tủ lạnh từ thời Liên Xô
và đủ ăn, đủ mặc, con cái được học hành. Còn phương tiện đi
lại, chủ yếu là đi mêtơrô (tàu điện ngầm). Đến nay các tướng
lĩnh Xôviết, các tướng lĩnh Nga hay những nhà trí thức lớn
của Nga mà tôi gặp, rất ít người có xe riêng. Khi tới thăm
chúng tôi, từ Thượng tướng - giáo sư - tiến sĩ A.T.
Khiupenen, Đại tá - tiến sĩ K.Sozranov, kỹ sư N.N Koleslik,
cho đến nhà văn - nhà báo quốc tế Misa Ilinsky đều thanh
thản xếp hàng đi tàu điện ngầm. Khi tôi hỏi về vấn đề xe con
với vị “Chủ tịch tổ chức xã hội liên khu vực các cựu chiến
binh Nga tham chiến tại Việt Nam” - Kỹ sư N.N Koleslik - ông
cười chua chát: “Liên Xô tan vỡ, lớp người như chúng tôi đã
quên khái niệm đi xe con từ lâu rồi. Boris Yeltsin ước mơ
đưa Liên bang Nga theo mô hình ngoại quốc, nhìn bề ngoài xã
hội có vẻ nhộn nhịp, tất bật và đa dạng, phong phú về hàng
hóa nhưng thực chất là cả xã hội bị bần cùng. Và cái rõ
nhất, “được” nhất của “nước Nga vĩ đại” trong mười năm qua
là xuất hiện một lớp người mới. Trước hết là các “ông trùm”!
Rồi ông thống kê nước Nga đã có 7 “ông trùm” lọt vào “top
ten” các nhà tỉ phú giàu nhất thế giới; trong đó, ông trùm
Boris Berezovsky có sở hữu tài sản lên tới 3 tỉ USD, sau là
ông trùm chủ Hãng ROSPROM với 2,4 tỉ USD, tiếp theo là chủ
Hãng GAPROM 1,1 tỉ USD, chủ nhà băng ONRKSIM 700 triệu
USD... Nhưng một điều thật đáng ngạc nhiên là hầu hết các
ông trùm thống lĩnh hệ thống kinh tế tiền tệ nước Nga hiện
nay đều “trưởng thành” và xuất thân từ thời Xôviết. Họ trở
thành ông chủ cũng rất nhanh thời hậu Xôviết. Thời Xôviết họ
là “củ cải đỏ” trong lòng chính quyền Cộng sản. Họ lợi dụng
sự phân hóa, chia rẽ trong Đảng để vô hiệu hóa các cơ quan
lãnh đạo quốc gia. Họ biết tìm ra cái mắt xích yếu nhất của
các cơ quan đầu não là biết dựa vào một vài nhân vật chủ
chốt trong Đảng Cộng sản Liên Xô đã biến chất chỉ biết toan
tính cho lợi ích cá nhân, để rồi họ từng bước song hành với
chiến thuật “diễn biến hòa bình” của Mỹ và phương Tây tập
trung vào Liên Xô. Và rồi khi thời cơ đến, họ cùng nhau đập
nát một cường quốc vĩ đại Nhà nước Liên bang Cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Xôviết. Cho tới bây giờ, thì các ông chủ xuất thân
từ “củ cải đỏ” và không ít trong số các nhà lãnh đạo Đảng
Cộng sản Liên Xô trước đây đã đổi gió, quay lại đánh phá tư
tưởng Cộng sản, phê phán thành quả của Nhà nước Xôviết một
cách quyết liệt nhất.
Khi trao đổi với chúng tôi về thực trạng đất nước Nga, kỹ sư
N. N. Koleslik thường liên tưởng tới Việt Nam. Ông nói, từ
bài học của Liên Xô, chắc các nhà lãnh đạo Việt Nam và nhân
dân Việt Nam rút ra nhiều bài học cho mình. Ông tâm đắc câu
nói của đương kim Tổng thống Nga V.Putin: “Một đất nước để
cho sự yếu kém và nghèo đói ngự trị thì không thể coi là
một đất nước hùng mạnh”. Rồi ông nói tới một lớp người Nga
mới. Họ thích mặc quần bò và áo da Ý. Họ không bàn, không có
khái niệm về lý tưởng. Họ xa rời và không quan tâm tới “sân
khấu” chính trị. Họ chỉ ham thích sống, ăn chơi hưởng lạc và
kiếm được nhiều tiền. Họ cũng không cần biết đến xuất xứ cha
mẹ họ thuộc thành phần hoặc giai cấp nào và đi theo ai -
cộng sản hay tư bản(?). Vâng, điều nhận xét đầy âu lo của
ông, tôi đã cảm nhận được không ở khía cạnh này thì cũng ở
khía cạnh khác trong những ngày du ký trên đất nước Nga.
Ngày đầu tiên tới nước Nga, tôi thật hào hứng khi được nhà
báo Ngô Gia Sơn, Phân xã trưởng Thông tấn xã Việt Nam thường
trú tại Mátxcơva, kể về mối tình “không biên giới” ngày xửa
ngày xưa của chị Dôia Grigorevna với một người lính Việt Nam
Nguyễn Văn Định khi anh học tập tại Học viện Quân sự
Vorosilov ở Mátxcơva. Vào những năm 60, việc một lưu học
sinh Việt Nam yêu một người nước ngoài là cả một chuyện
động trời. Riêng với “mối tình Nga-Việt” của chị Dôia và anh
Nguyễn Văn Định thì phải nhờ đến sự “liều mình” của chị
Dôia khi chị tìm mọi cách để gặp bằng được Thủ tướng Việt
Nam Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô
Côxưghin trong dịp Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Liên Xô, họ
mới được thành hôn vào năm 1962. Họ đã có hai người con,
một trai một gái, sinh tại Mátxcơva. Năm 1965, người lính
Việt Nam Nguyễn Văn Định sau khi tốt nghiệp Học viện Quân
sự Vorosilov trở về Việt Nam và đã anh dũng hy sinh tại
chiến trường miền Nam ngày 28-7-1972, bỏ lại người vợ trẻ
và hai con trên đất Nga. Mới đây, Nhà nước Việt Nam đã trả
tiền tuất một lần cho chị Dôia Nguyễn với tổng số tiền là
14.440.000 đồng (tiền Việt Nam). Cảm động trước một mối tình
chứa đựng đầy chất tiểu thuyết lãng mạn của bản anh hùng ca
Nga-Việt, vì thế nên tôi rất muốn có một nghĩa cử thật đẹp
là nhân danh Tổng biên tập Báo An ninh thế giới mời vợ của
liệt sĩ Nguyễn Văn Định là chị Dôia Nguyễn cùng hai người
con của chị về thăm quê nội Việt Nam. Nhưng rồi tôi thất
vọng bởi lẽ không thể tìm được chị Dôia Nguyễn mặc dù qua
Đại tá Đinh Nho Hồng, Tham tán quân sự Việt Nam tại Liên
bang Nga, và nhà báo Đào Tân, tôi đã gặp được cô con gái của
chị - cô Vêra Nguyễn. Cô Vêra Nguyễn ngượng ngùng nói với
tôi rằng: “Thú thật cháu chỉ sống ở Mátxcơva, thi thoảng mẹ
cháu ở quê lên thăm cháu, còn cháu không thể nhớ nổi mẹ
cháu đang phải sống trong trang trại nào của tỉnh Tula”.
Thấy tôi buồn, ông Lê Ngọc Hường, Tổng giám đốc Trung tâm
Thương mại Tôgi - người đã tổ chức cuộc gặp giữa chúng tôi
và các tướng lĩnh, sĩ quan Xôviết - cười chua chát và nói
với tôi: “Thì nó cũng giống con tôi và con anh - những đứa
trẻ được sinh ra và được sống ở chốn thị thành, được ăn ngon
mặc đẹp, được tiếp xúc với nền văn minh của ta của tây,
nhưng có bao giờ chúng nhớ về tôi và anh đã từng là người
lính cầm súng để chúng có được cuộc sống ngày hôm nay. Thậm
chí, có lẽ cả đời chúng không bao giờ nhắc đến quê cha. Anh
ạ, đó chính là nỗi lo đối với không ít những đứa trẻ của
ngày hôm nay...”.
IV
Trong những năm chiến tranh, những người lính Việt Nam
chúng tôi đã gặp rất nhiều các đồng chí Liên Xô là người
Nga trên đất Việt Nam. Đại thể cứ gặp mười người mũi lõ mắt
xanh da trắng thì chín người là các đồng chí Liên Xô. Dù họ
là một vị tướng, một sĩ quan, chuyên gia hay một nhân viên
kỹ thuật, một công nhân, một lái xe, dù đàn ông hay đàn bà,
các đồng chí Liên Xô đều thể hiện nhân cách của một người
cộng sản và bản tính của người Nga vốn bao dung và rộng
lượng đi làm nghĩa vụ quốc tế giúp người anh em Việt Nam
chống kẻ thù xâm lược.
Cho đến tận bây giờ, trong tâm tưởng tôi vẫn lưu đọng ấn
tượng về hai người anh em, hai đồng chí chuyên gia Liên Xô
là I.Novic và A.Roslov đã cùng chúng tôi đi truy tìm một
loại mìn lá mới lạ mà Mỹ - ngụy thả xuống biên giới Việt -
Lào năm 1972 để nghiên cứu. Cái gió Lào khắc nghiệt chỉ có
hơi và sức nóng cộng với ruồi vàng, bọ chó đã “quật” hai
đồng chí chuyên gia Liên Xô vốn quen sống xứ lạnh bằng những
trận ốm thập tử nhất sinh. Vậy mà hai đồng chí vẫn quyết bám
trụ ở biên giới Việt - Lào 3 tháng trời với một cuộc sống
chỉ có ăn ngô bung, sắn luộc và không một giọt sữa,
không một lát bánh mì, không một miếng bơ... Những hình
ảnh “đồng chí Liên Xô và đồng chí Việt Nam” ấy tôi lại
được gặp mới đây ở thủ đô Hà Nội ngay những ngày đầu năm
này khi đoàn của người đứng đầu Nhà nước Nga - Tổng thống
V.Putin - sang thăm Việt Nam. Đó là hình ảnh các đồng chí
cảnh vệ Việt Nam và các đồng chí cảnh vệ Nga ôm vai nhau
nói cười, chia nhau từng chiếc bánh mì, từng chai nước
khoáng, vài vại bia hơi và “hoài cổ” những chuyện ngày xửa
ngày xưa đã từng gặp nhau trên đất Nga hay trên đất Việt.
Và hình ảnh “đồng chí Liên Xô - đồng chí Việt Nam” tôi vẫn
thường gặp ở lớp người Nga vốn nặng lòng với Việt Nam mà tôi
đã kể ở phần trên của loạt ký sự này với bạn đọc. Nhưng hôm
nay, giữa lòng thủ đô nước Nga tôi lại gặp một lớp người Nga
khác. Đó là lớp người không biết và không cần đến quá khứ.
Họ không phân biệt đâu là bạn, đâu là thù. Ngay cả đến các
sự kiện làm thay đổi bình diện, thể chế của một đất nước,
một dân tộc, họ cũng tặc lưỡi và xếp vào dòng lịch sử. Mà
lịch sử thì bao giờ cũng vẫn là lịch sử - Một thời quá khứ,
nhớ làm chi cho mệt. Điều này ở một dân tộc, ở một đất nước
khác thì tôi không ngỡ ngàng nhưng lại ở một nước Đại Nga -
một đất nước vốn có truyền thống về giáo dục truyền thống
và ở không ít những người Nga đương đại đại diện cho một thế
hệ đầy sức trẻ ở Nga thì quả là một điều hết sức lạ.
Thật buồn để phải kể ra đây với bạn đọc về những hình ảnh
không đẹp một tí nào mà tôi bắt gặp hằng ngày trên đất Nga,
dù là ở giữa thủ đô Mátxcơva cổ kính và tráng lệ hay ở tận
vùng quê mênh mông bao la và hoang dại của đại văn hào
L.Tônxtôi. Trước hết xin được nói về những người bạn đồng
nghiệp của tôi - những người cảnh sát Nga. Suốt 10 ngày rong
ruổi trên nước Nga, tôi đã gặp vô vàn những người cảnh sát
Nga đi thừa hành công vụ. Họ đều rất trẻ, ăn mặc và trang bị
chỉnh tề. Nếu nói không quá thì họ rất thời thượng và hiện
đại với tầm vóc cao lớn; mũ, áo, quần đồng phục màu tím
sẫm; súng ngắn thò báng ra ngoài đeo trễ hông và cầm trên
tay hoặc đeo chéo vai khẩu AK báng gấp đen bóng nước thép.
Họ có mặt ở khắp mọi nơi; từ các công sở, các trục lộ giao
thông, nhà ga và ở cả các toa tàu điện ngầm. Nhưng có lẽ họ
hội tụ đông nhất là ở các khu người Việt ta buôn bán. Họ
giữ ANTT hay vì người Việt ta ở Nga hay quậy phá? Xin thưa,
cả hai lý do ấy đều không phải. Họ đến để săn lùng những
người Việt và những người “Nga đầu đen” (Người tóc đen ở các
vùng Trung Á) tới buôn bán mà không có đủ các giấy tờ hợp
lệ. Tôi đã mục sở thị những quả đấm, cú bợp tai, cái thụi và
bàn tay lần vuốt từng ve áo, lật tất chân và thọc cả vào áo
con của chị em người Việt để tìm tiền của những người lính
cảnh sát trẻ, đẹp trai người Nga giữa thanh thiên bạch nhật
và ở giữa chốn đông đầy người tây, người ta. Có lẽ không mấy
người Việt ta ở Nga khi ra đường là không bị cảnh sát... móc
túi, trừ các nhà đại sứ, thương vụ, tùy viên... đi xe con
mang biển số ngoại giao.
Một lần, thằng cháu ruột tôi đang làm ăn sinh sống ở vùng
Xibêri lạnh buốt lần về Mátxcơva tìm tôi ở một khách sạn gần
khu chợ vòm của Trung tâm Thương mại quốc tế (KT). Nó kể
rằng 3 ngày 3 đêm đi tàu từ Xibêri về tới Mátxcơva nó đã
phải mười sáu lần... lấy tiền cho cảnh sát, hết 2.700 rúp
(tương đương 1,5 triệu tiền Việt Nam). Lần nhiều nhất là 300
rúp, lần ít nhất là 50 rúp. Rồi cháu tôi cười bảo rằng nói
đâu xa, ngay khách sạn chú đang ở là khách sạn 3 sao dành
cho các ông lớn và những người nhiều tiền, vậy mà vào cửa
cháu còn bị cảnh sát đứng gác cửa móc 100 rúp. Tôi bảo cháu
cùng tôi xuống tìm người cảnh sát nọ, không phải là để
đòi lại tiền mà cái chính là tôi muốn tìm hiểu về lớp người
Nga mới này. Thấy cháu tôi, người cảnh sát Nga đã móc tiền
của cháu tôi cười rất tươi và xì xồ nói điều gì với một thái
độ rất thân thiện. Tôi nhờ cháu tôi phiên dịch cuộc nói
chuyện của tôi với người cảnh sát Nga. Tôi hỏi người cảnh
sát này có biết gì về Việt Nam không và biết như thế nào; cả
chuyến thăm Việt Nam mới đây của Tổng thống Nga V.Putin...
Anh ta cười, bảo người Việt ở Nga đông lắm, buôn bán có tiền
và giấu tiền trên người rất giỏi. Rồi anh ta ra hiệu cách
giấu tiền của người Việt thường để ở đế giày, cổ và gấu áo,
lại cả trong ruột dây thắt lưng. Nhưng tài mấy cũng không
thể qua mắt được cảnh sát Nga như anh ta. Anh ta tự hào về
điều đó bằng giọng cười ồ ồ khoái trá. Còn Việt Nam ở đâu,
quan hệ tình sâu nghĩa nặng giữa Nga và Việt Nam như thế
nào, anh ta không biết. Anh ta cũng không biết Việt Nam là
nước cộng sản hay tư bản và ở Châu Á hay Châu Phi. Nhưng
anh ta lại hỏi rất kỹ bộ măngtô trên người tôi mặc là của
nước nào, mua ở đâu với giá bao nhiêu? Anh ta rất thích thú
bộ máy ảnh Nikon tôi đeo trên người. Anh ta hỏi giá của bộ
máy ảnh. Tôi nói giá khoảng gần 3.000 USD. Anh ta nhẩm
tính và nói rằng chỉ hai, ba tháng là anh ta có thể mua được
bộ máy ảnh này. Tôi bảo lương của một trung sĩ cảnh sát như
anh ta là khoảng 50 USD, sống chỉ vừa đủ. Anh ta cười chỉ
vào thằng cháu tôi và nói: “Ngày nào tao cũng lấy tiền được
của những thằng này. Tích cóp lại tao mua cái gì chẳng
được”. Nghe anh ta nói vậy, tôi nhớ lại trong một bài trả
lời phỏng vấn của Tổng thống V.Putin đầu tháng 3 năm nay
trên một tờ báo Nga, ông đã thừa nhận rằng: “Ngay đối với
người Nga để mở một doanh nghiệp loại trung bình thì cần
phải có trên 100 loại giấy tờ. Mà, để có được từng ấy thứ
giấy tờ thì tất nhiên là phải lo lót, hối lộ...”. Biết là
vậy nhưng khi trò chuyện với viên trung sĩ cảnh sát này,
tôi nói với anh ta rằng tại Hà Nội, vị nguyên thủ quốc gia
Nga V. Putin đã hứa là “Nga sẽ tìm cách giải quyết một cách
tốt nhất đối với cộng đồng người Việt đang làm ăn, sinh
sống tại Nga theo hướng hợp pháp hóa ở mức tối đa trong
trường hợp có thể cho những ai chưa có giấy tờ chính thức về
quyền cư trú tại Nga, trừ những người thuộc thành phần tội
phạm của Nga và của Việt Nam”. Viên trung sĩ cảnh sát cười,
nói: “Đó là việc của ông V. Putin, còn việc của chúng tao,
chúng tao làm”. Điều cảnh báo của anh ta ngày hôm trước thì
ngay ngày hôm sau tôi đã được kiểm chứng và phải một phen
hú hồn khi một cảnh sát Nga cao tới hai mét và nặng chừng
trên tạ gõ cửa xộc vào phòng tôi ở khách sạn BEENTA. Thật
khổ cho tôi, một chữ Nga bẻ đôi không biết, còn anh ta thì
xì xà, xì xồ. Tôi nói với anh ta bằng một vài câu tiếng Anh
mà trước khi đi nước ngoài, con gái tôi đã luyện giọng cho
tôi nói chậm và cố gắng nói chuẩn. Viên cảnh sát hộ pháp
Nga lắc đầu. Anh ta vỗ vỗ vào túi. Tôi đưa hộ chiếu công vụ
cho anh ta xem. Anh ta vẫn lắc đầu và lại chỉ vào túi quần
sau đựng ví của tôi. Tôi đã hiểu, anh ta muốn lấy tiền của
tôi. Tôi lật hộ chiếu chỉ cho anh ta xem đủ các con dấu của
Mỹ, của Pháp, của Đức, của Trung Quốc đóng trên visa của
tôi, ý muốn nói với anh ta rằng tôi không phải người mà anh
ta dễ bắt nạt. Anh ta lại xì xồ xua tay, lắc đầu và mắt vằn
đỏ. Không còn cách nào khác, tôi lấy điện thoại di động bấm
số định gọi cho ngài Đại sứ Việt Nam Ngô Tất Tố và cho
“soái” Lê Ngọc Hường đưa vệ sĩ của ông là người Nga tới can
thiệp. Thấy phản ứng quyết liệt của tôi, viên cảnh sát Nga
lừ lừ đi ra cửa... chuồn. Chỉ tới sự kiện này, tôi mới hiểu
vì sao ngay từ khi đón đoàn tôi sang Nga, “soái” Lê Ngọc
Hường đã giao cho “phó tướng” của ông - Phó tổng giám đốc Lê
Ngọc Hạnh - và hai vệ sĩ nguyên là cảnh sát Nga cao to lừng
lững và lạnh lùng như gấu Bắc Cực “kèm” chúng tôi trên mỗi
nẻo đường nước Nga, trừ khi chúng tôi về nghỉ ở khách sạn.
Chúng tôi sang Nga vào đúng mùa băng tuyết. Không khí ngoài
trời có ngày xuống tới -10o.
Người Nga ra đường để đến với các siêu thị hay công sở vẫn
thanh thản, bình dị, mộc mạc và trầm lặng vốn là thuộc tính
từ ngàn đời nay của họ. Nhưng qua thông tin trên báo chí và
trên các kênh truyền hình Nga, chúng tôi hiểu nước Nga đang
vặn mình chuyển động. Thật thương cho ngài Tổng thống
V.Putin với hơn một năm tiếp thu “cái” di sản mà cựu Tổng
thống Boris Yeltsin để lại là con nợ nước ngoài có giai đoạn
lên tới 166 tỉ USD, nếu chia bình quân thì một người Nga bị
nợ nước ngoài 1.100 USD và “một đất nước có lịch sử bị xâu
xé với một địa lý bị xáo trộn, một dân số giảm sút, một nền
kinh tế hoang tàn, một bộ máy rách nát, tham nhũng”. Cũng
hơn một năm qua, nước Nga xảy ra quá nhiều sự cố như vụ
đắm tàu ngầm Kursk, cháy tháp truyền hình Ostankino, các vụ
khủng bố các quan chức cao cấp và các nhà báo nổi tiếng liên
tục xảy ra đi liền với các cáo giác tham nhũng trong bộ máy
Nhà nước từ Trung ương tới các địa phương...”.
V
Phải thừa nhận rằng, sự kiện Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Xôviết sụp đổ đã làm chấn động thế giới nửa cuối thế
kỷ XX. Với Việt Nam, Liên Xô luôn là thành trì, là chỗ dựa
vững chắc trên nhiều phương diện; đặc biệt là niềm tin của
những người Cộng sản Việt Nam về sự hùng cường, vĩ đại của
Đảng và Nhà nước Liên Xô. Liên Xô sụp đổ, đó là nỗi đau của
những người Cộng sản trên toàn thế giới, và với những người
Cộng sản Việt Nam thì sự mất mát này không thể có gì so
sánh được và cũng không có gì bù đắp được. Viết tới đây, tôi
lại nhớ về bố tôi, một người nông dân Việt Nam mà cả cuộc
đời gắn bó với sự nghiệp của Đảng. Đời tôi chỉ hai lần được
chứng kiến ông khóc. Lần thứ nhất ông khóc khi nghe tin Bác
Hồ mất và lần thứ hai ông khóc khi Liên Xô không còn nữa. Bố
tôi đã mất và những người cùng thế hệ với ông không ít người
đã ra đi nhưng những người Cộng sản có lý tưởng như ông thì
còn rất nhiều. Những người Cộng sản luôn ước muốn tiếp tục
đấu tranh cho lý tưởng của mình là xây dựng một xã hội
nhân bản với mọi con người.
Biết tin tôi đi Nga, nhà văn Phạm Tường Hạnh từ thành phố Hồ
Chí Minh gọi dây nói cho tôi. Ông đề nghị tôi với tư cách
là một nhà báo sang Nga hãy cố gắng tìm hiểu xem thực trạng
nước Nga từ khi Liên Xô sụp đổ; thực trạng cuộc sống và tư
tưởng của những người Cộng sản Nga hiện nay. Đặc biệt với kẻ
phản bội Gorbachev, ông ta có sám hối với nhân dân Nga
không? Và dư luận xã hội, các hệ thống thông tin của Nga lên
án Gorbachev và Yeltsin đã phá hoại Liên Xô trước đây và
nước Nga bây giờ như thế nào? Liệu nước Nga có vươn lên trở
lại là một cường quốc hùng mạnh để cầm chân và ngăn chặn
được bàn tay “bạch tuộc” của Mỹ thọc vào mọi đất nước, mọi
dân tộc trên thế giới, như trước đây được không? Vân vân và
vân vân... Nghe ông nói qua điện thoại với một tâm trạng
bức xúc, tôi cứ hình dung rằng, giả sử có một Gorbachev và
một Yeltsin bằng da bằng thịt ở trước mặt thì mặc cho cái
tuổi ngoài bảy mươi của mình, ông vẫn sẵn sàng chiến đấu một
mất một còn với kẻ thù nếu không phải là số một thì cũng là
số hai này của những người Cộng sản.
Về sự kiện Liên Xô sụp đổ, về một nước Nga điêu tàn thời hậu
Xôviết và về bản chất con người Gorbachev, Yeltsin đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà lý luận, các
nhà khoa học và của nhiều tướng lĩnh Xôviết, của nhiều ủy
viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô. Và, những bài học
về sự tan vỡ Liên bang Xôviết và hệ thống Xã hội chủ nghĩa
ở Đông Âu đã được các Đảng Cộng sản ở các nước đúc kết trên
nhiều phương diện; đặc biệt là công tác cán bộ, lựa chọn
những người lãnh đạo chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo Đảng,
Nhà nước ở giai đoạn chuyển đổi cơ chế Nhà nước từ nền kinh
tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường hòa nhập với trình độ
phát triển cao của nhân loại.
Trở lại vấn đề nước Nga thời nay - thời đại V.Putin cùng
với một năm cầm quyền của Chính phủ Kasyanov, phải thừa
nhận rằng, “V.Putin đã tái lập được một ý tưởng Nhà nước mà
nhiều người tưởng nó đã chết” như lời nhận định của tờ Le
Figaro của Pháp - một tờ báo không mấy thiện cảm với
Tổng thống Nga và chính quyền của ông. Còn tờ báo Độc lập
của Nga thì nhìn nhận: “Trong năm 2000, nước Nga đã có bước
phát triển vượt bậc và vì vậy lần đầu tiên sau một thời gian
dài “ngủ đông” của thời đại Yeltsin, Nga đã đứng vào hàng 10
nước phát triển năng động nhất thế giới. Ngân sách Liên bang
đứng vững, các công ty tư nhân đã trải qua thời kỳ khủng
hoảng của thời Yeltsin. Đặc biệt, Chính phủ đã có nhiều giải
pháp về vấn đề xã hội, mà trước hết là việc tăng lương
hưu”.
Nói như vậy không có nghĩa là nước Nga đã “vươn mình đứng
dậy sáng lòa” dưới cây gậy “thần” của nhân vật số một Điện
Kremli - Tổng thống V.Putin. Bởi nước Nga thời kỳ hậu Xôviết
đã tan rã và đa cực trên tất cả các mặt đời sống chính trị
- kinh tế và xã hội. Trong các cơ quan quyền lực điều hành
nước Nga có hàng vài chục đảng phái đối lập và đứng đằng sau
các đảng phái, các nhân vật “víp” của Chính phủ Nga là các
nhà tài phiệt nắm các hầu bao của nền kinh tế Nga. Đi kèm
với nó là các hệ thống thông tin đại chúng: Các kênh
truyền hình, phát thanh, báo chí đủ loại, đủ kiểu... cũng
thật lạ và cũng không lấy gì làm lạ trên một quầy báo với
hàng trăm ấn phẩm, nhiều báo thì khen, ủng hộ Tổng thống,
Chính phủ, còn lại không ít tờ chuyên bới móc, phê phán và
nói xấu Tổng thống, phê phán, nói xấu Chính phủ... Mới đây,
ngay việc đánh giá một năm của Chính phủ Kasyanov, Chủ tịch
Gennady Seleznyev và Phó chủ tịch Đuma quốc gia Nga, bà
Liubiov Sliska, cho rằng Chính phủ hiện nay đạt điểm 4+
(điểm tối đa là 5) trong việc thực thi điều hành kinh tế đất
nước. Nhưng thủ lĩnh nhóm Công - Nông nghiệp trong Đuma quốc
gia Nga, ông Nikolai Kharilonov, thì lại đưa ra đánh giá
hoàn toàn khác về Chính phủ. Ông cho rằng, “nhìn chung
trong lĩnh vực công - nông nghiệp, suốt cả năm 2000, Chính
phủ không mó tay vào bất cứ việc gì. Một năm giậm chân tại
chỗ”. Thực tế, nước Nga vẫn phải đối mặt với muôn vàn khó
khăn. Lạm phát tiếp tục gia tăng (trên 10%) và đã vượt ra
ngoài khuôn khổ qui định trong ngân sách. Giá sinh hoạt cũng
tăng trên 10%. Điều quan trọng là Chính phủ Nga bao gồm đại
biểu của một xu hướng quản lý điều hành tự do. Bởi vậy mọi
quyết định đều mang tính phiến diện và quan liêu. Song hành
với xu hướng tự do trên mọi lĩnh vực là nạn tham nhũng, tiêu
cực ở các cấp. Đứng đằng sau các nhà tài phiệt lớn, vừa và
nhỏ là các “víp” cũng lớn, vừa và nhỏ. Đấy cũng là sự tất
yếu của một đất nước có quá nhiều thành phần và đảng phái.
Một điều đáng lo ngại nhất ở Nga hiện nay là tình hình an
ninh trật tự. Lực lượng tàn quân khủng bố người Tresnia luôn
đe dọa cuộc sống yên lành của người dân ở mọi lúc mọi nơi
trên khắp lãnh thổ Nga. Cùng với nó là nạn khủng bố bằng bạo
lực của các thế lực chống Chính phủ, các ông trùm tài phiệt,
các tổ chức mafia kinh tế, chính trị muốn tranh giành ảnh
hưởng và quyền lợi. Chỉ có 10 ngày ở Nga, tôi đã thấy các
kênh truyền hình Nga đưa tin 3 vụ khủng bố, giết người động
trời. Một là vụ bắn Phó thị trưởng. Hai là vụ giết hại cả
hai vợ chồng Phó viện trưởng Viện Kiểm sát thành phố
Mátxcơva. Ba là vụ không tặc bắt máy bay Nga và con tin trên
đường bay Nga - Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi đã đi nhiều nước nhưng có lẽ
chưa có một nước nào trên thế giới mà việc đề phòng kẻ gian
đột nhập vào nhà lại được người dân Nga và các công dân nước
ngoài sinh sống tại Nga cẩn trọng như ở Mátxcơva và các
thành phố lớn ở Nga. Bạn cứ hình dung thế này: Để vào được
một căn hộ ở chung cư hay khu ở tập thể, bạn phải qua hai
người bảo vệ là người Nga. Tiếp đó là bạn mở mã số khóa cầu
thang chính. Rồi đến hai lần mở khóa cửa sắt và đẩy cửa sắt
nặng như cánh cửa nhà tù thì bạn mới có thể vào được trong
phòng. Còn trên đường phố, có lẽ Mátxcơva cũng là một thành
phố có lực lượng cảnh sát xuất hiện công khai đông nhất thế
giới. Đi trên các đường phố nước Nga, tôi luôn có một ấn
tượng rằng, sẽ không có một người nào nếu không phải là
người Nga tóc nâu mà không bị cảnh sát Nga kiểm tra giấy tờ
tùy thân, chí ít cũng một lần. Phải đến khi kiểm chứng tại
Mátxcơva, tôi mới tin một “huyền thoại” rằng hai nhà báo
thuộc hàng tên tuổi trong báo giới Việt Nam mà khi nhắc đến
tên chắc chắn nhiều bạn đọc nước nhà vị nể, là nhà văn, nhà
báo Xuân Ba của Báo Tiền Phong và nhà truyền hình Kinh Quốc,
khi đi tháp tùng Thủ tướng Việt Nam sang thăm chính thức
nước Nga cuối năm 2000, đã bị Cảnh sát Nga “nhập kho” hai
tiếng đồng hồ tại một đồn cảnh sát vì không mang theo người
hộ chiếu, là có thật!
Đọc tới đây chắc bạn đọc Việt Nam vốn sẵn ân tình với nước
Nga sẽ lo lắng cho vận mệnh của nước Nga. Liệu rồi nước Nga
có sớm ổn định và tìm lại ngôi vị đã mất của mình là một
cường quốc trên trường quốc tế đến hơn một phần hai quãng
thời gian một trăm năm của thế kỷ XX. Tất cả đều trông chờ ở
một dân tộc Nga vốn đã vĩ đại quật cường và trông chờ ở một
đường hướng đúng đắn; đặc biệt là ở một thủ lĩnh có đủ đức
tin, lòng dũng cảm, bản lĩnh, sự can trường để đưa nước Nga
bước qua cơn hoạn nạn và hồi sinh trở lại.
Lẽ đương nhiên với một con người lãnh đạo một quốc gia với
trên 150 triệu dân, lại trải qua một cuộc khủng hoảng, rối
loạn kéo dài thì quỹ thời gian một năm là rất ngắn để đưa
nước Nga đi lên một cách chắc chắn và vững bền. Tuy nhiên,
với “hiện tượng” V.Putin, đa số người dân Nga bước đầu có
niềm tin ở ông - một con người xuất thân từ giai cấp công
nhân và con một đảng viên Cộng sản, một cựu chiến binh đã
qua thử thách của cuộc Thế chiến thứ 2 và, cái chính là ông
đi lên từ chính đôi chân cứng rắn và cái đầu tỉnh táo, lạnh
lùng của mình. Với cương vị Tổng thống, hơn một năm qua,
V.Putin đã có nhiều quyết sách đúng đắn về kinh tế, về xác
lập vai trò của nước Đại Nga trên trường quốc tế. Về ứng xử,
ngay từ những ngày đầu nhậm chức Tổng thống, ông đã thoát
khỏi cái bóng của “gia đình” triều đại Yeltsin và ra tay
ngay trừng trị thế giới ngầm của các nhà tài phiệt vào loại
trùm nhất nước Nga. Có lẽ vừa tròn một thập kỷ qua, lần đầu
tiên ngày 9-5 năm nay, nước Nga tổ chức trọng thể kỷ niệm
Ngày chiến thắng phát xít Đức tại Quảng trường Đỏ và, cũng
là lần đầu tiên của thập niên này, nhạc của quốc ca Liên Xô
đã lại hào hùng cất lên trên Quảng trưởng Đỏ và trở thành
quốc ca chính thức của Liên bang Nga, bất chấp sự bực tức
của vị Tổng thống Nga đầu tiên Boris Yeltsin. Một điều thật
đặc biệt tại lễ kỷ niệm 55 năm Ngày chiến thắng phát xít Đức
ở Quảng trường Đỏ Mátxcơva là đứng trong đội hình các tướng
lĩnh cựu chiến binh Xôviết có hai vị tướng của Việt Nam:
Thượng tướng Trần Văn Quang và Trung tướng Lê Văn Tri được
đích danh Tổng thống Nga V.Putin mời sang Nga dự lễ.
Nói tới vị đương kim Tổng thống Nga V.Putin, người dân Nga
còn ngạc nhiên bởi tính cách “thép” trong việc dùng người
của ông. Ngay từ buổi đầu thành lập nội các, V.Putin đã
không ngần ngại dùng những nhân vật “víp” của triều đại
Boris Yeltsin miễn là người đó còn được việc và ông cũng
không e ngại khi mời các bạn ông - những sĩ quan có tài của
ngành tình báo Liên Xô (KGB cũ) - đảm đương các cương vị chủ
chốt trong Chính phủ. Với hai vị “trưởng lão”: cựu Tổng
thống Liên Xô Gorbachev và cựu Tổng thống Nga Boris Yeltsin,
ông vẫn giữ mối quan hệ không xa, không gần. Bằng chứng là
khi bà Raisa, phu nhân của Gorbachev qua đời bên Đức năm
1999, V.Putin đã đưa máy bay chuyên cơ chỉ dành cho nguyên
thủ nước Nga để Gorbachev và gia đình sang Đức tổ chức lễ
tang. Còn với Boris Yeltsin, thì sắc luật đầu tiên V.Putin
khi bước vào cương vị ông chủ Điện Kremli là cam kết cho vị
Tổng thống đầu tiên của nước Nga được miễn trừ mọi trách
nhiệm hình sự, không bị bắt giữ, không bị xét hỏi cho dù
khi đương vị ngai vàng, Boris Yeltsin đã thẳng tay nã đại
bác vào Đuma quốc gia Nga và là một ông trùm tham nhũng.
Nhưng cùng với động thái đó, V.Putin đã không ngần ngại
miễn nhiệm tức thì cương vị cố vấn Tổng thống của cô con gái
rượu to vật vã cả về người và quyền thế của Boris Yeltsin.
Tóm lại, với “hiện tượng” V.Putin - người thủ lĩnh cầm và
chèo lái đất nước - đa phần người dân Nga đã có độ tin cậy
rất cao ở ông. Qua một vài lần thăm dò dư luận, ông luôn
được từ 60-70% phiếu tín nhiệm. Đứng sau ông là thủ lĩnh
Đảng Cộng sản Liên bang Nga Ziuganov. Tuy vậy khi tôi trực
tiếp hỏi một số cựu chiến binh và các tướng lĩnh Xôviết cũ
về uy tín của vị Tổng thống đương nhiệm thì được trả lời:
“Bước đầu cũng tạm. Nhưng hãy chờ xem...”
VI
Sang đến Mátxcơva, tôi chỉ nảy ý định tìm hiểu về thực
trạng cuộc sống của cộng đồng người Việt ta ở Nga khi ông
Ngô Gia Sơn, Phân xã trưởng Thông tấn xã Việt Nam tại Liên
bang Nga, dịch cho tôi nghe bài viết của nhà báo Nga
V.Pamokhova trên tờ Cadắc buổi chiều với lời phi lộ:
“Có rất nhiều lời đồn đại về chợ của người nước ngoài ở Nga.
Người ta đồn rằng, những người Việt Nam buôn bán ở Nga đều
dính dáng với mafia Châu Á và không những có thể mua ở họ
thuốc phiện, ma túy mà còn có thể mua được cả thuốc nổ nữa.
Những lời đồn đại này xuất hiện không phải ngẫu nhiên. Những
cuộc kiểm tra thường xuyên của cơ quan cảnh sát về hộ chiếu,
hộ khẩu; các yêu cầu của cơ quan bảo vệ pháp luật về tăng
cường quản lý buôn bán, thậm chí có cả các đề nghị đóng cửa.
Tất cả điều đó đã làm nảy sinh những lời đồn đại đa dạng của
khách hàng. Nhưng chợ của người Việt Nam vẫn mở cửa và vẫn
rất đông khách hàng. Điều đó có nghĩa là chợ Việt Nam cần
thiết cho rất nhiều người Nga...”.
Để hiểu được “lượng” và “chất” của người Việt ta ở Nga qua
các “nhà” đại sứ, tôi nắm được các thông số khác nhau. Đại
loại số lượng người Việt ở Nga thuộc diện Nhà nước Việt Nam
quản lý thì đại sứ nắm được không những tên tuổi, quê quán,
nghề nghiệp mà cả những sở thích, cá tính và “nghề chính”,
“nghề phụ” của từng người. Nhưng nói số lượng tổng thể ở
dạng này là bao nhiêu thì đây là bí mật có tính quốc gia nên
tôi không được phép công bố. Còn với cộng đồng người Việt ở
Mátxcơva và ở các thành phố của các nước cộng hòa khác của
toàn Liên bang Nga, người thì bảo khoảng một vạn, người thì
bảo phải cỡ trên năm, bảy vạn. Tóm lại, không những tôi mà
kể cả các chuyên gia về Nga của Đại sứ hay của Bộ Ngoại giao
Việt Nam cũng không nắm được số liệu chính xác là hiện tại ở
Liên bang Nga có bao nhiêu người Việt Nam, bởi người Việt
sang Nga sinh sống, đi và về bằng rất nhiều con đường, nhất
là trong một nền kinh tế “mở”, một cơ chế “thoáng” và có quá
nhiều “cửa lọt” để đi nước ngoài dưới nhiều hình thức mà cơ
quan công an không thể kiểm soát nổi. Đặc biệt là với nước
có mối quan hệ thân thiết lâu bền với Việt Nam như Liên Xô
trước đây và nước Nga hiện nay.
Người Việt hiện thời ở Nga rất đa dạng. Một là những người
thuộc diện lao động hợp tác sang làm việc tại các nhà máy,
xí nghiệp của Liên Xô giai đoạn cuối những năm 80 và đầu
những năm 90. Sau khi hết hợp đồng, hay hợp đồng bị đình chỉ,
hoặc do nhà máy, xí nghiệp phá sản, đa số anh chị em trụ lại
ở Nga buộc phải bươn chải tự kiếm sống và kiếm tiền trước
hết là để nuôi mình, sau là đã trót mang danh “tha phương
đến xứ người” chẳng thể không giắt lưng được vài chục nghìn
đô cho bõ. Dạng thứ hai là những người “ăn theo”. “Ăn theo”
chồng, vợ; “ăn theo” bố mẹ; “ăn theo” anh em, họ hàng, dòng
tộc và cuối cùng là “ăn theo”... “bồ”. Dạng thứ ba là không
ít cán bộ, lưu học sinh sang công tác ở Liên Xô (cũ) và Nga
hiện nay đã không trở về nước cho dù đã hết kỳ công tác và
học tập... Tóm lại, với nước Nga thời hậu Xôviết dù là đất
nước hỗn loạn, điêu tàn và có thời điểm rơi vào khủng hoảng
toàn diện, đồng rúp tụt giá hàng trăm lần và giá trị của
đồng xu rúp chỉ như một thứ kim loại kẽm bình thường...
Nhưng khối cộng đồng người Việt ta vẫn bền bỉ ngày cũng như
đêm bám mặt trên khắp các ngõ ngách, đường phố của xứ Bạch
Dương mặc cho sự xua đuổi, truy bức của các lực lượng cảnh
sát, mặc cho gió tuyết giá lạnh của mùa đông và mặc cho cái
nắng như thiêu như đốt của mùa hè để đứng bán từng chiếc áo
phông, từng chiếc quần bò và săn lùng từng chú chó “Minu
xinh đẹp” đóng cũi gửi về đất Việt... Phải sang đến Nga tôi
mới lại được chứng kiến cái quật cường, cái khí phách nhưng
cũng rất cơ cực, đắng cay, thấm đẫm máu và nước mắt của
người Việt ta ở Nga để tồn tại và mưu sinh. Đưa ra điều cảm
nhận trên chắc sẽ có nhiều bạn đọc đặt câu hỏi: Vậy tại sao
người Việt cứ ùn ùn dắt díu kéo nhau sang Nga, trong khi cái
quyền tối thiểu của một con người là được sống, được đi lại
và hít thở “khí trời tự do” cũng... thiếu. Xin thưa, câu hỏi
này tôi đã hỏi rất nhiều người Việt ta ở Nga và đều được trả
lời: “Dù có chui lủi, mất tự do, thậm chí phải ăn những quả
thụi hay bị nhốt dăm bữa nửa tháng trong “cũi” của cảnh sát
Nga cũng được, nhưng ở Nga dễ kiếm tiền hơn. Về nước thì
chúng tôi làm gì được và làm ở đâu? Chúng tôi sẽ tích cóp để
có được lưng vốn kha khá và kiểu gì thì cuối cùng “cáo chết
ba năm cũng sẽ quay đầu về... nước”... Vậy là bà con người
Việt ta “đa mưu túc kế” cụm vào nhau “mang đô đi mở ốp” và
“chợ Việt Nam” được hình thành từ đấy dưới bàn tay thao lược
của các soái người Việt có tiền, có máu mặt và có gan dám
chơi, dám liều...
Về các soái, đại soái, hay chủ soái ở Nga hiện nay có rất
nhiều cách nhìn khác nhau trong ý thức người Việt ở Nga. Bởi
thói đời không yêu, không ghét mới là khó, mới là chuyện lạ.
Và cái kiếp người, hèn mọn quá thì người ta bảo là ngu, là
đần mà hơn người một chút thì có kẻ yêu, người ghét âu cũng
là lẽ thường. Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi nghe người
này bảo các soái là kẻ có tội, là bọn “địa chủ” thời nay,
còn người kia thì bảo các soái là người có công. Công lớn và
rất tài giỏi. Đi tha phương ở xứ người, từ thằng “Chí Phèo”
đi ở nhờ, làm thuê, mánh mung từng xu nay vươn lên làm
“vua”, làm ông chủ, dù là ông chủ xanh hay ông chủ đỏ thì
cũng vẫn là kẻ lắm tiền nhiều bạc, có kẻ đưa người rước, có
kẻ hầu người hạ, nói vạn người nghe, quyền thế nghiêng thiên
hạ... Vì lẽ ấy, trăm nghe không bằng một thấy, tôi tiếp cận
với một trong các đại soái mà người Việt ở Nga nhắc đến
nhiều nhất hiện nay là anh Lê Ngọc Hường - Chủ tịch Hội đồng
quản trị kiêm Tổng giám đốc Trung tâm Thương mại quốc tế
(KT) mà dịch nôm sang tiếng Việt và gọi tắt là ông chủ của
khu “chợ Vòm” có hàng nghìn người Việt và hàng trăm người
Nga buôn bán, mở ốp bán hàng ở đây. Lai lịch của anh Lê Ngọc
Hường tóm tắt thế này: Quê Thanh Hóa, sinh năm 1960. Năm
1978 vào lính, học xong Học viện Hậu cần và được cử làm đội
phó phụ trách kỹ thuật đoàn xe vận tải phục vụ biên giới Tây
Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường Campuchia. Ra
quân với quân hàm thượng úy. Năm 1988 được sang Nga hợp tác
lao động ở thành phố Ôriôn. Cái máu lính và khí chất làm
“vua” của người xứ Thanh đã không để anh yên với chức phận
một công nhân làm thuê. Thế là anh nhảy vào đội hình chuyên
đánh hàng quần bò, áo phông cá sấu, son Thái từ Việt Nam
sang và đi săn lùng chó Nhật, nồi nhôm, dây mayxo, bàn là và
xe “Vốtkhốt” khắp mọi nẻo đường xứ tuyết để đóng thùng gửi
về Việt Nam quay vòng. Ki cóp được cỡ tiền tỉ Việt Nam, anh
hăm hở cùng hai người bạn xứ Thanh “khăn gói quả mướp” lên
Mátxcơva mua ốp tôm bán hàng ở ốp Búa Liềm và phất nhanh.
Chỉ hai năm, anh và hai người bạn của anh kiếm lãi chừng 1
triệu USD (tương đương gần 15 tỉ đồng tiền Việt Nam), ba
chàng “ngự lâm” xứ Thanh thừa thắng xông lên mở tiếp ốp Tây
Đô. Nhưng rồi như quy luật của muôn đời: phúc và họa; được
và mất luôn là những cặp bài trùng của nhau trong mỗi con
người và trong mỗi đời người. Với “ông chủ” nhỏ Lê Ngọc
Hường vừa mới vươn lên chưa kịp mở mặt mở mày thì đã bị
người bạn làm ăn thân cận nhất của anh... phản phé. Rủng
rỉnh có một chút lưng vốn, anh lại mất trắng và suýt mất cả
mạng sống khi một người bạn “nối khố” toan tính đầu độc và
định cướp cả cơ nghiệp của anh...
Bắt tay mở “chợ Vòm” vào mùa đông năm 1995 khi tuyết phủ
trắng chợ - Gọi là chợ nhưng thực ra chỉ là một bãi đất
trống, bỏ hoang, soái Hường thuê của một học viện quân sự
Nga rồi dựng lều và mua côngtenơ về đặt làm ốp cho bà con
người Việt thuê lại làm ốp bán hàng. Nói vậy tưởng đơn giản
và ngon ăn như người ta thò tay vào túi móc tiền, nhưng có
được một rúp ở “chợ Vòm” hay bất cứ một chợ nào của người
Việt ở Nga là cả một nỗi cơ cực đắng cay trăm bề. Với “chợ
Vòm” của soái Hường, những ngày đầu mở chợ là cả một vấn đề
sống còn vì không biết bao nhiêu thế lực cản trở. Các soái
chuyên nghề kinh doanh chợ - cả Tây và cả ta thì ngại vì sợ
rằng biết đâu “chợ Vòm” gặp vận sẽ “bóp chết” các chợ khác,
chi bằng cứ ra chiêu độc thủ trước. Vậy là bao nhiêu đòn độc
các đối thủ tung ra hết để bóp “chợ Vòm” từ trong trứng nước.
Còn phía Tây, ngay ngày đầu tiên mở chợ họ đã huy động lực
lượng liên ngành: cảnh sát, thuế vụ, hải quan, y tế, môi
trường và một đại đội cỡ trên trăm tay súng của cảnh sát đặc
nhiệm bất ngờ ập đến kiểm tra văn phòng công ty và các ốp
trong chợ. Tất thảy quan và lính của văn phòng “chợ Vòm” đã
bỏ của chạy lấy người. Một người duy nhất có gan ở lại đương
đầu với Tây, đó là Tổng giám đốc Lê Ngọc Hường. Khi hỏi về
sự kiện ấy, anh cười và bảo: “Tôi vốn là một người lính và ở
đây tôi làm giám đốc, đứng sau tôi lúc ấy là cả trăm bà con
người Việt mình. Nếu tôi sợ và bỏ chạy thì chợ sẽ tan. Tài
sản của bà con buôn bán trong chợ sẽ mất trắng. Với lại, tôi
đâu có phải là tội phạm? Tôi mở chợ có giấy phép của chính
quyền sở tại, nếu có điều gì sai thì chúng tôi điều chỉnh...”.
Vậy là nhờ sự can trường của Lê Ngọc Hường mà “chợ Vòm” tồn
tại và phát triển cho tới ngày nay với hàng nghìn kiốt bán
hàng của người Việt ta ở Nga. Hàng nghìn kiốt có nghĩa là
hàng nghìn chủ bán hàng - tôi nhẩm tính và làm phép tính
nhân một kiốt nuôi được mười người. Vậy chỉ riêng một “chợ
Vòm” đã nuôi được cỡ một vạn người Việt Nam với mức sống khá
giả. Ấy là chưa kể tới một khoản thuế không nhỏ đóng góp cho
chính quyền sở tại của nước Nga.
Cho đến bây giờ, mặc dù đã coi là thân nhưng tôi vẫn không
hỏi và không biết soái Lê Ngọc Hường có được bao nhiêu triệu
đô. Người thì bảo anh có cỡ trên mười triệu. Người thì bảo
phải hơn, và ngược lại, có người ước đoán anh chỉ có khoảng
bốn, năm triệu đô là cùng và anh đích thực là một nhà tư bản
lớn của Việt Nam ở Nga nhưng là một nhà tư bản đỏ bởi có
tình và có tâm của một người cộng sản. Nghe người ta nói,
tôi cứ như mơ và thấy lạ hoắc. Hỏi ra tôi mới hiểu rằng mặc
dù lắm tiền, nhiều bạc nhưng Lê Ngọc Hường vẫn là một đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam, sinh hoạt tại Đảng bộ Đảng đoàn
Sứ quán Việt Nam tại Nga và là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh
Việt Nam gồm 100 người nguyên là lính Việt Nam đang sống,
làm việc ở Trung tâm Thương mại quốc tế (KT). Tuy nhiên,
những cái mà anh có chỉ là nhãn mác. Điều quan trọng nhất là
người cựu chiến binh Lê Ngọc Hường đã làm được rất nhiều
việc cho cộng đồng người Việt ta ở Nga.
VII
Mấy năm gần đây, trên thương trường của cộng đồng người
Việt tại Liên bang Nga và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ
đã xuất hiện nhiều soái nổi lên như cồn nhờ “chợ Việt Nam”.
Đa phần các soái đều là đấng nam nhi và đều ở độ tuổi trên
dưới 40. Duy nhất có một người của phái đẹp được cộng đồng
người Việt phong soái và đứng trong hàng top ten những nhà
“tư bản” người Việt ở Nga là Mađam Côi - tên thực là Đào Thị
Côi. Chị là bà chủ của Công ty Vitarus - “chợ Việt Nam” ở
vùng Cadan. Chợ của chị có 1.500 người bán hàng, không chỉ
có người Việt Nam mà còn có cả người Trung Quốc, Ấn Độ,
Ápganixtan, Lào, Êtiôpia, Curơguxtan, Udơbêkixtan.... Cuộc
đời của Mađam Côi cũng đa đoan và năm nổi năm chìm. Gốc quê
ở Thanh Oai, Sơn Tây nhưng lại sinh ở thành Vinh và chị mất
cha từ khi còn trong bụng mẹ. Sinh tồn ở mảnh đất cằn cỗi
chỉ có đất bạc màu, cát và gió Lào nhưng cái khí chất hiếu
học và có chí làm quan của dân xứ Nghệ đã nhào nặn Mađam
Côi từ một cô bé mồ côi ngày chỉ ăn một bữa, phấn đấu là học
sinh giỏi toàn diện và được cử đi học đại học ở Liên Xô rồi
trở thành giảng viên Trường đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội
và trở về Vinh lấy chồng. Những năm 70-80, đất xứ Nghệ vô
cùng khó khăn về đời sống kinh tế và đã có một câu hát được
cải biên rằng: “Nghệ Tĩnh mình ơi, Trung ương gọi lấy mì...”.
Có lẽ cùng vì thế mà Mađam Côi quyết tìm đường cứu... nhà,
bỏ lại quê người chồng và ba con nhỏ để sang Liên Xô lao
động hợp tác ở Xí nghiệp May số 4, thành phố Cadan thuộc
nước Cộng hòa Tatarxtan. Khi Liên Xô tan vỡ, Mađam Côi cũng
như bao người Việt tha phương khác ở Nga lận đận, chui lủi
kiếm sống qua ngày và cái chí làm giàu trên đất người nảy
sinh từ nỗi đắng cay cơ cực này. Chị mượn tiền thuê đất lập
chợ ở giữa trung tâm thành phố Cadan và cuộc cạnh tranh mua
và bán giữa người Việt với người Việt, giữa người Việt với
các ông chủ, bà chủ người địa phương diễn ra quyết liệt, có
nhiều trường hợp phải đổi bằng máu. Giai đoạn đầu lập chợ
người Việt ở Cadan vì tiền mỏng sức gầy, Mađam Côi đã nhiều
lần bị các đối thủ vật “lấm lưng trắng bụng”... chợ của chị
bị đóng cửa với lý do “ách tắc giao thông và ô nhiễm môi
trường”. Gần một năm sau, Mađam Côi mới lại thuê được một
xưởng bỏ không của một công ty xây dựng làm ăn thua lỗ để
dựng chợ Việt Nam mới. Đã có thời kỳ tính mạng của Mađam Côi
cũng như của soái Lê Ngọc Hường “chợ Vòm” được các đối thủ
“chăm sóc” đặt giá hàng triệu đô và chị cũng đã có phen
“được” một người bạn cùng quê xứ Nghệ toan tính cướp trắng
cơ ngơi của chị...
Khi tôi sang đến Nga, có rất nhiều người Việt ở Mátxcơva hỏi
tôi có biết gì về soái Võ Văn Hồng - ông chủ của Tổng công
ty Bến Thành có nhiều chi nhánh ở nước ngoài - bị thanh
toán tại Singapo không? Tin này được lan truyền không những
ở Việt Nam, trong cộng đồng người Việt ở Nga mà cả những
người Việt buôn bán và đánh hàng từ Ấn Độ, Trung Quốc sang
Nga... Bốn ngày sau trên kênh truyền hình VTV4 dành cho
người Việt ở nước ngoài của Đài Truyền hình Việt Nam, chúng
tôi thấy soái Võ Văn Hồng xuất hiện với tư cách nhà doanh
nghiệp Việt Nam ở nước ngoài góp ý Dự thảo văn kiện Đại hội
IX của Đảng. Sự hiện diện này của soái Hồng mọi người đều
hiểu ông muốn thông tin rằng: ông vẫn tồn tại và phát triển.
Với năm, bảy vạn người Việt Nam ở Nga mà nguồn sống chủ yếu
là đánh hàng lớn và bán hàng xỉ thì tình hình sức khỏe, tính
mạng và sự nặng nhẹ cả về túi tiền, cả về uy lực đối với
quan chức Nga của các soái đã tác động trực tiếp tới tình
hình buôn bán ở các “chợ Việt Nam”. Thế mới biết, cái mặt
trái của thị trường tư bản, kiếm được đồng tiền là cả nỗi
cực nhọc, mồ hôi nước mắt, thậm chí phải đánh đổi bằng mạng
sống, nhất là với các soái. Tôi đã được nghe nhiều tới việc
triệt hạ nhau của các soái qua từng thời kỳ hậu Xôviết để mở
mang thanh thế và tranh giành ảnh hưởng cũng như thị phần.
Mặt tốt có tính tích cực của các soái người Việt ở Nga là đã
tạo được công ăn việc làm cho rất nhiều người Việt Nam; cả
những người lao động nghèo là người Nga và người nghèo nhiều
nước khác. Khi các soái đã đứng vững, cơ ngơi và quyền lực
đã đủ thì cũng có nhiều nghĩa cử hào hiệp đối với các hoạt
động xã hội như nhớ về cội nguồn, đóng góp các khoản tiền
lớn, nhỏ xây dựng quê hương. Đặc biệt là những ngày lễ lớn
của đất nước, của dân tộc, các soái đều hỗ trợ Đại sứ quán
sum họp bà con người Việt ta và mời các quan khách Tây tổ
chức các lễ kỷ niệm dưới nhiều hình thức để khơi dậy lòng tự
hào dân tộc. Mặt khác, chúng tôi cũng được biết bất cứ hoạt
động gì của Đại sứ và của cộng đồng người Việt ta ở Nga, ví
dụ như tổ chức mời các tướng lĩnh cựu chiến binh Xôviết từng
công tác ở Việt Nam sang thăm Việt Nam, mời các nhà văn Việt
Nam sang tìm hiểu Nga, mời các nghệ sĩ trong nước sang Nga
biểu diễn phục vụ bà con người Việt ở Mátxcơva, ở các nước
cộng hòa thuộc Liên bang Nga, hoặc giúp các tài năng trẻ
đang học tập tại Nga... nghĩa là tất tuốt những việc gì cần
tới tiền là “người ta” lại nghĩ tới cái túi tiền của các
soái. Dĩ nhiên các soái rất ít khi khước từ. Tuy vậy, được
thấy, được gặp trực tiếp từng năm, bảy soái và được nghe bà
con cộng đồng người Việt nói nhiều về từng soái có máu mặt ở
Nga, tôi thấy các soái gọi là đường được cũng không ít nhưng
cũng không nhiều. Có tổng công ty được soái này thì hỏng
soái kia. Nhiều bà con người Việt bán hàng trong chợ của các
soái đều phàn nàn về một chế độ “chuyên chế, độc tài” của
các soái và có phần... “bóp” hầu bao của bà con bằng nhiều
khoản “thuế khóa”. Đặc biệt là giá mua kiốt bán hàng ban đầu
và khoản phải nộp hằng tháng của mỗi chỗ bán hàng. Có kiốt
bán hàng trong “chợ Việt Nam” rộng chừng 8 mét vuông, giá
mua ban đầu lên tới hàng trăm triệu đồng và giá thuê hằng
tháng chừng trên dưới mười triệu đồng tiền Việt Nam. Đấy là
về kinh tế, còn về ứng xử thì dĩ nhiên các soái là ông chủ
đích thực trên nhiều phương diện. Có soái cũng ỷ thế lắm
tiền và nhiều quyền nên đã không ngại giở chứng quấy rối
tình dục những chị em nào trông mát mắt...
Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại. Đã là những người dân
buôn bán thì cũng không ít người gian. Ai cũng chỉ tính lời
lãi về mình mà không chịu hiểu cái khó khăn, vất vả đứng mũi
chịu sào trước số phận của hàng nghìn người bán hàng ở mỗi
“chợ Việt Nam” của các soái. Bởi nguy cơ bị dẹp “chợ Việt
Nam” lúc nào cũng treo lơ lửng trên đầu các soái với một
nghìn lẻ một lý do. Tôi đã được đọc tất cả các văn bản để
dẫn tới sự kiện “chợ Tôgi” bị đóng cửa mà tôi đã nói ở phần
đầu của ký sự này. Bắt đầu từ việc một soái loại nhỏ cũng là
người Việt muốn giành lại “chợ Tôgi” từ tay soái Phạm Dũng
Tiến. Họ thuê phóng viên người Nga viết bài về việc vi phạm
“quỹ đạo pháp lý” ở Nga của người Việt bán hàng ở “chợ Tôgi”
đăng trên báo Đoàn viên Mátxcơva. Bước tiếp theo là
bằng nhiều “con đường” họ tiếp cận được một đại biểu Đuma
quốc gia Nga A.V.Nôvicốp và thế là vị đại biểu Đuma quốc gia
này với tư cách và cương vị quá lớn của mình đã viết kiến
nghị gửi Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao, Bộ Nội vụ, Ủy
ban hải quan quốc gia Liên bang Nga yêu cầu tịch thu hàng và
đóng cửa “chợ Tôgi” của người Việt Nam. Viện dẫn một trường
hợp để bạn đọc hiểu rằng để kiếm được đồng tiền khấm khá với
các nhà doanh nghiệp không chỉ ở xứ ta mà với cả ở xứ Tây là
bao nỗi nhọc nhằn truân chuyên. Về cuộc sống của các soái,
tôi xin lấy soái Lê Ngọc Hường - ông chủ của Trung tâm Kinh
tế - Thương mại quốc tế (KT) - làm ví dụ. Ngay ngày sang
Nga đầu tiên, anh mời tôi dự sinh nhật lần thứ 42 của anh
được tổ chức tại phòng ăn của cán bộ, nhân viên văn phòng
của cơ quan anh. Thành phần chủ yếu là gia đình. Khách mời
gồm một vài cán bộ của Đại sứ quán Việt Nam tại Nga. Còn lại
toàn là các tướng lĩnh cựu chiến binh Liên Xô cũ và các
tướng, tá đương chức của quân đội, cảnh sát quận Izmailôvơ,
và cảnh sát vùng phía tây thành phố Mátxcơva. Nhìn mối quan
hệ của anh, tôi hiểu các soái, các chủ doanh nghiệp người
Việt muốn có chỗ đứng an toàn trên đất Nga họ phải có biết
bao “vỏ bọc” là quan chức cỡ “VIP” trên nhiều địa hạt và
nhiều lĩnh vực của chính quyền sở tại. Nhưng đó chỉ là sự
bảo đảm an toàn cho công việc làm ăn. Còn để an lành cho sức
khỏe, tính mạng các soái và gia đình của họ thì cũng vô
cùng phức tạp và công phu không kém việc bảo vệ các yếu nhân
thuộc hàng “tài sản quốc gia” hay các ngôi sao hàng đầu của
Hollywood. Về ăn uống, tôi không thấy một soái nào chịu ăn
và uống những thứ mà không phải là người nhà đưa ra. Hãn hữu
có phải “đối ngoại” cơm khách thì họ chỉ nếm thử các thứ mà
chủ nhà đã nhúng đũa. Còn uống nước thì bao giờ họ cũng
nhấp nhấp để thẩm định xem có vị chát là lạ nào trên môi
không (?). Nơi ở và nơi làm việc của các soái thì ít nhất
cũng có hai vệ sĩ người Nga to vật vã, đứng hoặc ngồi gác 24
trên 24 giờ trong ngày. Khi các soái đi “vi hành” luôn luôn
có ba vệ sĩ đi kèm: một người đi trước và hai người đi sau...
Được chứng kiến một con người bị mất rất nhiều quyền “tự do
và dân chủ” này, tôi nói với soái Lê Ngọc Hường rằng, lưng
vốn đã kha khá sao không về Việt Nam dựng nghiệp, Nhà nước
đang mở cửa cho các doanh nhân, vừa ích nước vừa lợi nhà...
Với lại, chẳng có ai rình rập để hại anh (!). Ngẫm ngợi một
lúc, soái Hường nói với tôi: “Biết là cực, là đắng cay nhưng
đã mang cái nghiệp vào thân rồi, rút chân ra không được nữa.
Vì nó không chỉ là đồng tiền mà còn vì danh dự và cái chính
là vì cuộc sống, là tương lai của hàng nghìn gia đình bà con
người Việt đang bán hàng ở “chợ Vòm” của tôi tại Nga...”.
VIII
Chuyện về các văn nghệ sĩ tha phương
và “chân dung” Trần Đăng Khoa
Cách đây 5 năm, khi Tạp chí Văn hóa - Văn nghệ Công an chính
thức gia nhập “làng” báo, “làng” văn của nước nhà thì tôi
nhận được bức điện chúc mừng của Hội Văn học - Nghệ thuật
Việt Nam tại Liên bang Nga kèm theo một thư mời sang Nga của
Tổng thư ký Hội - nhà thơ Nguyễn Đình Chiến. Tôi thật sự bất
ngờ bởi nhiều lẽ. Trước hết, tôi chưa quen, chưa gặp nhà thơ
Nguyễn Đình Chiến, mặc dù tôi biết anh đã từng giật giải
nhất trong cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ năm 1982. Mặt khác,
tôi chưa hình dung nổi “Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam
tại Liên bang Nga” gồm những ai, “họ” tồn tại và hoạt động
thế nào ở thời điểm mà nước Nga đang rơi vào cuộc khủng
hoảng toàn diện, đồng rúp tụt giá tới hàng trăm lần. Đã thế,
trong giấy mời còn ghi rõ: “Mọi chi phí đi, về, ăn, ở do Hội
Văn học - Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga đài thọ”.
Tôi bán tín bán nghi cứ xem đi xem lại từng câu, từng chữ
trong giấy mời, và soi lên soi xuống con dấu của Hội Văn học
- Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga to cỡ bằng “đít chén
Tống”, có cả chữ tây, chữ ta khắc chìm trông thật oách. Tôi
gọi điện hỏi nhà thơ Trần Đăng Khoa. Từ đầu dây bên kia,
Khoa cười hơ hớ: “Đúng đấy, ông sẽ đi cùng với tôi. Tôi sẽ
phiên dịch cho ông. Họ sẽ đón ông như đón nguyên thủ quốc
gia”. Chơi với Khoa có dễ tới hơn chục năm, biết bạn rất tốt
nhưng ấn tượng về “Khoa... cuội” luôn ý thức trong đầu nên
tôi ậm ờ và khước từ khéo lời mời này với lý do “rất bận”...
Cũng vì cái duyên nợ ấy, khi tôi sang Nga, một trong những
“việc cần làm ngay” là muốn được gặp các bạn trong Hội Văn
học - Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga. Lúc này, Chủ
tịch Hội - nghệ sĩ Tôn Thất Triêm - đã về nước giảng dạy
tại Nhạc viện Hà Nội, còn vị Tổng thư ký Hội nhiệm kỳ đầu
tiên - nhà thơ Nguyễn Đình Chiến nghe tin đâu “nợ như chúa
Chổm” nên đã về nước và các nhà hoạt động văn học nghệ thuật
Việt Nam tại Liên bang Nga đã bầu nhà thơ Bùi Quang Thanh
làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ II. Nhìn danh sách hội viên lên
tới con số 99 (55 hội viên đang sinh sống tại Nga và 44 hội
viên đã về nước) với đủ các lĩnh vực văn học, âm nhạc, hội
họa, sân khấu - điện ảnh... và toàn những người “tên tuổi”.
Với đội hình này có lẽ “tầm cỡ” Hội Văn học - Nghệ thuật tại
Liên bang Nga chỉ “thua” Hội Văn học - Nghệ thuật Hà Nội và
TP.Hồ Chí Minh, còn trên tất tuốt các Hội Văn học - Nghệ
thuật của các địa phương trong cả nước, mặc dù về phương
diện pháp lý “họ” chưa được Hiệp hội các Hội Văn học - Nghệ
thuật Việt Nam cấp “chứng chỉ”. Đã có lần, nhà thơ Hữu Thỉnh
- khi ấy còn là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam -
sang Nga, ông có gặp gỡ các nhà văn, nhà thơ Việt Nam đang
sinh sống ở Mátxcơva, “họ” có tặng ông các sáng tác thơ,
văn, nhạc, hội họa của “họ” và đề đạt nguyện vọng được thành
lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Liên bang Nga. Nhà thơ Hữu
Thỉnh gật gù. Về nước, ông quên theo thói quen hay ông ngại
sẽ khó quản các “nàng văn”, “nàng thơ” hay lãng tử ở xứ trời
Tây (?). Chính vì vậy mà tới nay Hội Văn học - Nghệ thuật
Việt Nam tại Liên bang Nga là do những người yêu và “máu”
làm nghệ thuật trong cộng đồng người Việt ở Nga tự lập nên
rồi được Đại sứ quán Việt Nam tại Nga thừa nhận và Chính
quyền Nga cấp giấy “hành nghề” hợp pháp.
Thật ngây thơ cho tôi, khi sang tới Mátxcơva, tôi khao khát
được tới thăm công sở của tòa soạn Tạp chí Người bạn đường
của các nhà văn, nhà thơ người Việt tại Nga mà khi còn ở
trong nước đã nghe danh từ lâu. Nhà thơ Châu Hồng Thủy, Tổng
biên tập của Tạp chí, nhăn nhó, gãi đầu nói với tôi: “Ông cứ
như người ngoài hành tinh. Gọi là Hội Văn học - Nghệ thuật
Việt Nam tại Liên bang Nga nhưng chúng tôi toàn là dân nghèo,
tí tí hoạt động đều phải ngửa tay xin các soái thì lấy gì ra
trụ sở của Hội và của Tạp chí hả ông ?”. Điều anh nói là
thật bởi việc gặp mặt của chúng tôi với anh chị em văn nghệ
sĩ Việt Nam tại Mátxcơva cũng phải nhờ tới soái Lê Ngọc
Hường - ông chủ của “chợ Vòm” tổ chức lo liệu mới thành.
Không trụ sở, không tiền bạc và chỉ có một con dấu “củ khoai”,
vậy mà các nghệ sĩ lãng tử của Việt Nam ta ở Nga đã làm được
rất lắm trò. Việc đầu tiên phải kể đến Tạp chí Người bạn
đường - nơi hội tụ các sáng tác của các văn nghệ sĩ Việt Nam
tại Nga vẫn tồn tại nhưng ra kiểu “tắc bọp... phát một” khi
nào xin được tiền thì ra, còn các tác giả đều tình nguyện
không lấy nhuận bút. Để hoạt động có tính đa dạng, Hội còn
lập ra “Trung tâm Văn học - Nghệ thuật Văn Lang”, có cả nhạc
sĩ, ca sĩ và dàn nhạc thì mạnh nhất là đội kèn để phục vụ
đám cưới của người Việt ta ở Nga. Thi thoảng có soái nào làm
ăn phát đạt hứng chí tài trợ cho Hội một khoản thì anh em
văn nghệ ta “liệu cơm gắp mắm”, khi thì mở trại sáng tác văn
học, khi thì tổ chức đi thăm quê hương các bậc “trưởng lão”
của nền văn học Nga như cụ Lép Tônxtôi hay cụ Êxênhin...
Bước vào thiên niên kỷ mới, Hội Văn học - Nghệ thuật Việt
Nam tại Liên bang Nga còn bạo tay tổ chức cuộc thi sáng tác
Văn - Thơ - Nhạc - Họa và Ảnh nghệ thuật với chủ đề “Những
tác phẩm chào mừng thế kỷ XXI” cho cộng đồng người Việt
không chỉ ở Liên bang Nga mà còn với cả sang các nước Đông
Âu là Ba Lan, Pháp, Đức, Séc, Hungari...
Nhưng theo tôi, một hoạt động đã thực sự gây ấn tượng và có
tiếng vang trong “làng văn” Việt Nam ở trong nước là sự kiện
Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga đã “cả
gan” mời đoàn bốn nhà thơ thuộc “hàng xịn” trong nước là
Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hoàng Sơn, Hà Phạm Phú, Chu Thăng
“sang thăm chính thức nước Nga”. Với “thần đồng” thơ Trần
Đăng Khoa thì cộng đồng người Việt ở Nga luôn coi anh là
người nhà và là niềm tự hào của họ bởi anh đã có thâm niên 5
năm là công dân Việt ăn học ở Liên Xô cũ. Có lẽ cũng vì thế
mà trong Ban biên tập của Tạp chí Người bạn đường từ số 1
cho tới số 13 mà tôi có trong tay dù Khoa có làm hay không
làm nhưng vẫn có tên của Trần Đăng Khoa đứng sau tên của
Tổng biên tập. Gặp bất cứ người Việt nào đã từng ở lâu trên
đất Nga, họ đều nhắc một vài kỷ niệm về Khoa. Các bạn cùng
học Trường viết văn M.Goócky thì nhắc về Khoa thời đó có
chiếc catáp rất sang đi đâu cũng xách trông thật oai vệ
nhưng bên trong chỉ đựng một tác phẩm mẫu “Những người cùng
thời” của Ilia Erenbua viết về chân dung các nhà văn Nga và
còn lại là những củ cà rốt đã rửa sạch mà Khoa bảo là để
phòng khi nhỡ bữa. Ăn uống với Khoa thì dù ở tây hay ở ta
cũng rất xuềnh xoàng. Chơi với Khoa nhiều năm nên tôi thuộc
các món “khoái khẩu” của Khoa. Có lẽ, Khoa thích nhất ba món.
Một là món chân gà nướng. Hai là món đậu phụ luộc. Và ba là
món mắm tôm pha loãng, Khoa chan cơm, chan bún như chan canh.
Đấy là ăn, còn ở với Khoa cũng đơn giản qua loa, đại khái,
thế nào cũng xong. Ngủ thì miễn là có khoảng trống dưới chân
và có chỗ kê đầu là được. Có lẽ vì hiểu khí chất của một nhà
thơ nguyên là anh lính nhà quê nên việc bố trí đoàn nhà thơ
do Khoa “cầm đầu” sang chơi, giao lưu với anh em hoạt động
văn học nghệ thuật và cộng đồng người Việt ở Nga là điều đơn
giản. Vé máy bay đi, về thì xin mỗi soái cho một ít. Còn ăn
và ở thì tuần đầu “Hội văn nghệ...” năn nỉ Đại sứ Việt Nam
tại Nga “bao” trọn gói. Xe đưa, rước bốn nhà thơ “vi hành”
thì đã có nhà báo Đào Tân của Thông tấn xã Việt Nam tại Nga
vừa phiên dịch vừa kiêm “người cầm lái”. Khổ nỗi, xe con
luật quốc tế qui định chỉ được chở không quá bốn người cả
lái nên biết là phải chở tới năm nhà thơ vì thêm nhà thơ Bùi
Quang Thanh, Chủ tịch Hội - (một người ghế trước và bốn
người phía sau) là phạm luật; với lại cũng đã quá rành sự
“chém chặt” của cảnh sát Nga nên “nhà cầm lái” Đào Tân
“lệnh” cho bốn nhà thơ ngồi ghế sau phải thay nhau: hai
người luôn luôn phải cúi gằm đầu xuống sát sàn xe để “qua
mặt” cảnh sát Nga mỗi khi đoàn “vi hành” trên phố.
Tuần đầu, đoàn hoạt động “xuôi chèo mát mái”. Sang tuần thứ
hai, Đại sứ không còn kinh phí để bao, thế là Hội Văn học -
Nghệ thuật của ta ở Nga “sang tay” bốn nhà thơ trong nước
cho Tổng công ty thương mại Lion của soái Bảo, nhưng ông này
cũng chỉ nuôi ăn và ở. Khi sang tới Mátxcơva, tôi có tới
thăm Trung tâm thương mại Lion và tới nơi “tá túc” của đoàn
bốn nhà thơ trong nước ta những ngày ở Nga. Các anh được các
ông chủ Lion bố trí hai phòng khách nhưng thực ra là hai
gian nhà hầm, chỏng chơ kê hai chiếc giường một phòng, không
có cả hệ thống toalét. Mỗi khi cần làm vệ sinh thân thể, các
nhà thơ ta lại phải đi lên khu văn phòng Lion và việc đầu
tiên là phải qua mặt hai chú chó bécgiê to, cao ngang thắt
lưng người. Sau đó là phải đóng 5 rúp cho một vệ sĩ của văn
phòng Lion thì mới vào được buồng toalét để giải tỏa...
nỗi buồn muôn thuở. Thấy có vẻ bất tiện, bốn nhà thơ ta
bèn tiết kiệm bằng cách... không tắm. Một tuần không tắm và
đi đọc thơ phú dài dài, nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn - chủ bút
báo Tiền Phong cuối tuần - sinh ốm. Anh vái chào ông chủ
Lion và bay vội về nước chữa bệnh. Còn lại ba nhà thơ và còn
những ba chương trình giao lưu với cộng đồng người Việt ta ở
ba Tổng công ty thương mại Sông Hồng, Togi, “chợ Vòm”. Ba
nhà thơ phải độc thoại hai tiếng đồng hồ. Riêng với danh
tiếng Trần Đăng Khoa, anh phải độc diễn trọn một giờ. Với
thơ, hàng hai ba chục năm nay Khoa không có gì mới, không có
gì vượt qua “Góc sân và khoảng trời” thuở bé. Đành vậy,
nhưng Khoa vốn lém lỉnh và hoạt ngôn, anh hào hứng nói với
bà con người Việt ta về “Chân dung và đối thoại”. Sau cùng
Khoa nói chuyện về tình yêu. Mở đầu, Khoa đưa ra khái niệm
về tình yêu mà cách đây mười mấy năm Khoa đã từng nói rất
nhiều buổi với cộng đồng người Việt thời Liên Xô cũ, rằng:
“Tình yêu là một căn bệnh truyền nhiễm ưu ái. Nó thành
bệnh dịch lúc tuổi trẻ và lây lan lúc về già”, ấy vậy nhưng
cuối cùng đoàn của bốn nhà thơ nổi danh trong nước sang Nga
đã hoàn thành sứ mệnh “đi sứ” một cách vẻ vang với 7 đêm
giao lưu với cộng đồng người Việt ta ở Nga. Trước khi về
nước, các nhà thơ thư giãn bằng cách đi thực tế “chợ Vòm”.
Nhà thơ Chu Thăng điểm lại số tiền mà qua các “đêm thơ” các
anh được tặng chia đều cho các nhà thơ... đi chợ. Đến đầu
dãy khu 7B của “chợ Vòm”, nhà thơ Trần Đăng Khoa sà ngay vào
một quầy bán toàn đồ quần lót, áo lót của... chị em. Khoa
rất say sưa xem từng thứ và cặn kẽ hỏi giá từng loại. Nhà
thơ Bùi Quang Thanh nhanh nhảu giới thiệu với cô gái bán
hàng rằng: “Đây là nhà thơ Trần Đăng Khoa vừa từ Việt Nam
sang”. Mặt cô chủ hàng đỏ lựng và Trần Đăng Khoa cười khùng
khục phân bua: “Tôi chuẩn bị lấy vợ”...
Buổi gặp gỡ với anh chị em sáng tác văn học nghệ thuật người
Việt ta ở Nga có rất nhiều người hỏi tôi về dư luận 2 tác
phẩm “Chân dung và đối thoại” và “Người thường gặp” của Trần
Đăng Khoa. Có người còn hỏi thẳng tôi rằng, Khoa viết về ông
thế nào? Tôi bảo: “Rất quí tôi nên Khoa viết về tôi hơi quá
so với những gì tôi làm được, còn với các nhà văn khác, kể
cả các bậc “trưởng lão” trong làng văn Việt Nam hiện nay như
Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang
Sáng, Nguyên Ngọc... thì Khoa mắc căn bệnh “nhà văn lớn” nên
Khoa chỉ biết chữ của Khoa và không biết chữ của ai”. Rồi
tôi dẫn dụ: Một lần nhà văn, nhà biên kịch nổi tiếng Chu Lai
mời Khoa đi xem vở kịch “Ám ảnh xanh” của anh do Nhà hát
kịch Hà Nội công diễn. Xem xong, nhà văn Chu Lai hỏi Khoa:
“Khoa thấy thế nào? Có được không?”. Không cần suy ngẫm,
Khoa hào hứng: “Hay! Bác viết được lắm! Đến Lưu Quang Vũ hay
Tào Mạt viết cũng chỉ đến thế...”. Sáng hôm sau, tại ngôi
nhà số 4 Lý Nam Đế của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, có một nhà
văn hỏi Khoa: “Xem kịch của Chu Lai, Khoa thấy thế nào?”.
Vẫn thói quen không cần phải nghĩ ngợi, Khoa chép miệng: “Ối
dào, kịch của bác Chu Lai em chỉ thấy gào với thét và toàn
những lời đại ngôn. Xem kịch như đi đánh trận...”. Đấy, Khoa
là thế, nói và phán vô thưởng vô phạt không chết ai và nhãn
mác “Khoa cuội” ra đời từ những chuyện nhỏ nhoi như vậy...
Mátxcơva - Hà
Nội
Tháng 4-2001
H.U. |
|